Theo báo cáo kết quả 2 năm (2017-2018) thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, công tác giảm nghèo có nhiều chỉ tiêu, nội dung đã đạt và vượt tiến độ đề ra. Cụ thể, năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước là 15,10%; đến năm 2016 giảm còn 13,64% và năm 2017 giảm còn 12,02%. Tính chung, giai đoạn 2015-2017, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm 1,59%/năm (mục tiêu đề ra từ 1-1,5%/năm). Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo giảm bình quân 5,43%/năm; tại các xã thuộc Chương trình 135 giảm khoảng 3%-4%/năm, đạt mục tiêu Quốc hội giao.
Ảnh minh họa, nguồn Internet
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 tập trung vào vùng lõi nghèo. Đến nay, có 8 huyện thoát nghèo trong tổng số 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a; 14 huyện hưởng cơ chế theo Nghị quyết 30a thoát khỏi tình trạng khó khăn; 19/291 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo ra khỏi chương trình. Ước đến cuối năm 2018, tỷ lệ nghèo cả nước còn dưới 6%, giảm khoảng 1% so với đầu năm 2017 (6,7%), trong đó, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm trên 4%.
Để thực hiện các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2016-2020, tổng nguồn lực ngân sách Trung ương cấp cho Chương trình xấp xỉ 41,45 nghìn tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư phát triển là gần 29,7 nghìn tỷ đồng, vốn sự nghiệp là trên 11,75 nghìn tỷ đồng). Các nguồn lực đầu tư chủ yếu cho các địa bàn nghèo thông qua 5 dự án: Chương trình 30a; Chương trình 135; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nhân rộng mô hình giảm nghèo; Dự án truyền thông, thông tin; Dự án nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo giữa các vùng miền, cải thiện đời sống cho người dân ở vùng khó khăn. Trong 3 năm (giai đoạn 2016-2018), tổng số vốn đã giao chương trình xấp xỉ 21,6 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 52,1% tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2016-2020 (trong đó vốn đầu tư phát triển trên 14,9 nghìn tỷ đồng, vốn sự nghiệp gần 6,7 nghìn tỷ đồng). Bên cạnh đó, chính sách tín dụng tiếp tục khẳng định hiệu quả thiết thực trong công tác giảm nghèo với tổng dư nợ tăng. Tính đến tháng 6/2018, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ ở mức 0,42%; mức vay tối đa cho các hộ để phát triển sản xuất, kinh doanh, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao.
Kết quả thoát nghèo bền vững của các hộ nghèo là hiệu quả của chủ trương đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng hỗ trợ có điều kiện, không tạo tư tưởng trông chờ, ỷ lại của người nghèo, tạo điều kiện để người nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo và tạo cách nhìn khác về thoát nghèo. Đồng thời, hệ thống chính sách giảm nghèo cũng từng bước được hoàn thiện. Chính phủ, các bộ, ngành đã tích cực triển khai việc tích hợp chính sách, giảm tình trạng trùng lặp chính sách và chuyển dần từ chính sách “cho không” sang chính sách hỗ trợ có điều kiện; đẩy mạnh phân cấp cho các xã làm chủ đầu tư các dự án và trao quyền tự chủ cho cộng đồng; các chính sách thúc đẩy kết nối phát triển kinh tế - xã hội giữa vùng khó khăn với vùng phát triển cũng được ban hành, kết quả thực hiện bước đầu đã mang lại những chuyển biến tích cực. Ngoài các chính sách giảm nghèo thường xuyên như: Chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sạch, vệ sinh, thông tin, hỗ trợ tín dụng, pháp lý… Chính phủ và các bộ, ngành quan tâm hoàn thiện, bảo đảm cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tiếp cận được đầy đủ các dịch vụ xã hội, từng bước cải thiện, ổn định cuộc sống. Đồng thời, ban hành các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, thực hiện hỗ trợ tích cực cho các gia đình gặp hoàn cảnh rủi ro như: Thiên tai, lũ lụt… sớm ổn định cuộc sống, hạn chế rơi vào tình trạng hộ nghèo hoặc tái nghèo.
Các chính sách, chương trình giảm nghèo, nguồn lực đầu tư của Nhà nước đã phát huy hiệu quả, góp phần giảm nghèo bền vững, với những kết quả khả quan sau: Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0,695 năm 2016 lên 0,700 năm 2017. Mức sống dân cư ngày càng được cải thiện, năm 2016, tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh đạt 93,4%; tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh là 83,3%; tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới sinh hoạt đạt 98,8%; tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền đạt 99,7%. Năm 2017, tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 94,9%; tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh là 86,4%. Bộ mặt nông thôn, nhất là nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có sự thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được công tác giảm nghèo vẫn còn những hạn chế như: Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỷ lệ tái nghèo bình quân là 5,1%/năm so với tổng số hộ thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo phát sinh tương đối lớn, bằng 22,98% so với tổng số hộ thoát nghèo, một số tỉnh có điều kiện thuận lợi song phát sinh hộ nghèo cao, nguyên nhân chủ yếu do tách hộ, do gặp rủi ro như: Ốm đau, bệnh tật… ; đến cuối năm 2017, cả nước còn trên 30 nghìn hộ có thành viên là người có công với cách mạng thuộc diện hộ nghèo, chiếm 1,8% hộ nghèo cả nước; kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư của cả nước có xu hướng tăng; nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn tăng cao; thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 2/5 mức thu nhập bình quân của cả nước; một số chính sách trong hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù đối với khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng nên hiệu quả tác động chưa cao như: Chính sách hỗ trợ nhà ở mức hỗ trợ còn bình quân và thấp, chính sách đầu tư nguồn nhân lực cho người dân tộc thiểu số, chính sách cử tuyển chưa gắn với sử dụng sau đào tạo,…; thiếu sự gắn kết giữa hỗ trợ đời sống, phát triển sản xuất với chuyển giao khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, bảo vệ môi trường, thu hút đầu tư; nguồn lực thực hiện chính sách còn dàn trải.
Giải pháp giảm nghèo bền vững thời gian tới
Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 theo Nghị quyết 76/2014/QH13 của Quốc hội đề ra, trong thời gian tới công tác giảm nghèo cần tập trung vào các giải pháp sau:
Một là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm; đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành, nhất là ở địa phương trong thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo.
Hai là, thực hiện tốt hơn những chính sách đã ban hành; tiếp tục thực hiện rà soát, đánh giá hệ thống chính sách giảm nghèo, trên cơ sở đó lồng ghép các chính sách, loại bỏ các chính sách chồng chéo, không hiệu quả, nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với tiêu chí cụ thể; đảm bảo tính hiệu quả của chính sách và tính khả thi trong bố trí nguồn lực thực hiện; tích hợp một số chính sách hiện đang trợ cấp bằng tiền mặt thành một gói trợ cấp có điều kiện để giảm đầu mối cơ quan quản lý, chi trả và tạo điều kiện thuận lợi, giảm thời gian, thủ tục, chi phí đi lại,.. cho đối tượng thụ hưởng khi nhận trợ cấp.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế khuyến khích, huy động nguồn lực từ người dân và cộng đồng xã hội cho công tác giảm nghèo; đổi mới hình thức hỗ trợ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, chuyển dần từ hình thức bao cấp toàn bộ sang đồng chia sẻ về kinh phí.
Bốn là, bố trí đủ và sớm kinh phí ngân sách để thực hiện các chính sách giảm nghèo hàng năm và cả giai đoạn; ưu tiên bố trí ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA), vốn tín dụng Nhà nước cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội các vùng khó khăn.
Năm là, ưu tiên nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu; xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có đất ở và giải quyết đất sản xuất, hoặc chuyển đổi nghề kết hợp đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa được hỗ trợ đất sản xuất, nghiên cứu, đề xuất, trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách giải quyết tình trạng di dân không theo quy hoạch ở một số địa phương.
Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội, khích lệ và khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của chính người nghèo, hạn chế thấp nhất tình trạng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo của một bộ phận dân cư.
Hy vọng rằng, với những giải pháp trên cùng những nỗ lực của Chính phủ, của cộng đồng và các tổ chức xã hội, đặc biệt năm 2020, Việt Nam sẽ đạt mục tiêu mà Nghị quyết 76/2014/QH13 của Quốc hội đặt ra, đó là: Giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước xuống dưới 4% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ bình quân hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm xuống dưới 30%; đến hết năm 2020 không còn số hộ nghèo là gia đình có công với cách mạng; hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo, phát sinh nghèo do các nguyên nhân chủ quan./.