Nhờ đó đến nay, tình hình kinh tế - xã hội nông thôn và sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tỉnh Hải Dương đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020 của Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, năm 2020, ngành nông, lâm nghiệp thuỷ sản tăng trưởng 5,7%, đóng góp 0,6 điểm% vào tăng trưởng GRDP; trong đó, ngành nông nghiệp tăng 5,8% tương đương tăng 398 tỷ đồng; ngành thủy sản tăng 5,7% tương đương tăng 72 tỷ đồng; hoạt động dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nên ít tác động đến tăng trưởng của ngành.
Hệ thống giao thông được nâng cấp mở rộng, trải nhựa hoặc bê tông hóa theo chuẩn quốc gia về nông thôn mới. Tại thời điểm 01/7/2020, toàn tỉnh có 100% xã có đường trải nhựa hoặc bê tông hóa nối từ trụ sở UBND xã đến trụ sở UBND huyện, thành phố, thị xã; 100% đường trục thôn; trên 90% đường ngõ, xóm đạt chuẩn nông thôn mới. Từ năm 2016-2020, số xã có tỷ lệ đường giao thông nội bộ xã/liên thôn; đường nội bộ thôn/ngõ xóm được nhựa, bê tông hóa đạt 100% tăng nhanh. Có 173 xã, chiếm 97,2% có đường trục xã được nhựa, bê tông hóa 100%, tăng 13,1 điểm %. Cơ bản các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh (10/12) có tỷ lệ xã có đường trục xã được nhựa, bê tông hóa 100%.
Hệ thống trường học các cấp tiếp tục được đầu tư nâng cấp kiên cố cao tầng với trang thiết bị chuẩn quốc gia. Năm 2020, toàn tỉnh có 178 xã có trường tiểu học, đạt 100% tổng số xã trên địa bàn tỉnh; 177 xã có trường trung học cơ sở, đạt 99,4%; 178 xã có trường mẫu giáo/mầm non, đạt 100%. Có 344 thôn có trường, lớp mẫu giáo, chiếm 38,9% tổng số thôn; 309 thôn có nhà trẻ, nhóm trẻ, chiếm 34,9%. 99,5% trường học các cấp được kiên cố hóa. Tỷ lệ trường trung học cơ sở được xây dựng kiên cố là 100%, tăng 1,8 điểm%, trường tiểu học là 99,5%, tăng 0,3 điểm%, trường mầm non là 100%, tăng 9,8 điểm% so với năm 2016.
Tại thời điểm 01/7/2020, khu vực nông thôn toàn tỉnh có 11 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, tăng 57,1%, trong đó có 158 trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia, tăng 51,9%; 176 trường tiểu học, tăng trên 40%; 159 trường mầm non/mẫu giáo, tăng trên 50% so với năm 2016.
Hệ thống cơ sở y tế tiếp tục được đầu tư đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của cư dân nông thôn. Hệ thống y tế xã phát triển cả về số lượng cơ sở y tế tư nhân, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, cơ sở vật chất và các trang thiết bị khám chữa bệnh. Đến ngày 01/7/ 2020, số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo bộ tiêu chí ban hành theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT của Bộ Y tế là 175 xã, bằng 98,3% tổng số xã. Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong lĩnh vực y tế, năm 2020, có 59 xã, chiếm 33,2% số xã có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân (cả nước 28,6%); có 173 xã, chiếm 97,2% số xã có cửa hàng dược phẩm (nhà thuốc) phục vụ bán thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn; có 832 thôn, chiếm 94,0% số thôn có cán bộ y tế thôn.
Mạng lưới chợ nông thôn, cơ sở kinh doanh vật tư, hàng nông sản được nâng cấp, mở rộng là điều kiện thuận lợi cho sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Năm 2020, cả tỉnh có 134 xã có chợ, chiếm 75,3% số xã (cao hơn tỷ lệ 64,4% của cả nước và tỷ lệ 75,5% của vùng Đồng bằng sông Hồng). Số xã có chợ được xây dựng kiên cố và bán kiên cố đạt 88 xã, chiếm 49,4% (năm 2011 đạt 42%, năm 2016 đạt 44%). Cùng với mạng lưới chợ, tỉnh có 165 xã, chiếm 92,7% số xã có cửa hàng cung cấp giống, vật tư và thu mua sản phẩm nông nghiệp, thủy sản; tổng số cơ sở là 1.775 cơ sở, bình quân 9,9 cơ sở/xã.
Mạng lưới thông tin, thiết chế văn hóa, thể thao phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân. Đến năm 2020, toàn tỉnh có 176 xã có nhà văn hoá, đạt 98,8% tổng số xã (năm 2016 đạt 74,0%). Hầu hết các huyện đạt 100% số xã có nhà văn hoá. Toàn tỉnh hiện có 885 thôn có nhà văn hóa thôn, nhà sinh hoạt cộng đồng chiếm 99,5% (năm 2016 đạt 96,6%), có 332 thôn có thư viện, đạt tỷ lệ 37,5%; có 881 thôn có hệ thống loa truyền thanh xã, đạt tỷ lệ 99,5%.
Hệ thống cung cấp nước sạch được phủ kín đến các thôn và vệ sinh môi trường nông thôn được các địa phương quan tâm bảo vệ. Năm 2020, toàn tỉnh có 48 xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, chiếm 26,9%; hệ thống cấp nước sạch đã được phủ kín đến hầu hết các thôn. Tính đến 01/7/2020, toàn tỉnh có 122 xã và 585 thôn đã xây dựng hệ thống thoát nước thải chung, chiếm tỷ lệ 68,5% số xã và 66,1% số thôn. Tuy nhiên, tỷ lệ xã xây dựng được hệ thống thoát nước thải chung còn thấp ở một số địa phương.
Để phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường, tỉnh Hải Dương đã ưu tiên phát triển các ngành kinh tế theo hướng ít ô nhiễm môi trường, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Năm 2020, toàn tỉnh có 176 xã có tổ chức (hoặc thuê) thu gom rác thải, chiếm tỷ lệ 98,8% (năm 2016 có 93,4%). Tỷ lệ số thôn có công trình xử lý rác thải sinh hoạt đạt 66,1%, cao hơn bình quân chung cả nước và thấp hơn khu vực Đồng bằng sông Hồng (cả nước 34,7%, ĐBSH 76,4%).
Đến hết năm 2020, có 171/178 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 96%; trong đó 14 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt 7,9%; 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 07 đơn vị cấp huyện về đích nông thôn mới. Sau 10 năm thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới, diện mạo nông thôn tỉnh Hải Dương đã có nhiều thay đổi và có những chuyển biến rõ nét trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế nông thôn tăng trưởng khá, chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống người dân từng bước được nâng lên.
Kết quả điều tra cho thấy, tại thời điểm 01/7/2020 các xã có 741 cán bộ chủ chốt, bình quân mỗi xã có 4 người. Trong tổng số cán bộ xã nêu trên có 32 cán bộ nữ, chiếm 4,3%, tăng 1,7 điểm % so với năm 2016; bình quân mỗi xã có 0,1 cán bộ chủ chốt là nữ. Tỷ lệ cán bộ có bằng cấp đại học và trên đại học tăng từ 53,6% năm 2016 lên 95,9% năm 2020, ngược lại tỷ lệ cán bộ trung cấp, cao đẳng giảm tương ứng từ 44,0% xuống 4,0%. Tỷ lệ cán bộ có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên tăng từ 94% năm 2016 lên 99,1% năm 2020.
Sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, hình thành các cánh đồng chuyên canh lớn, nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Trong những năm qua tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ sản xuất theo hướng tập trung, từ đó từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng chuyên canh chất lượng cao với nhiều mô hình như: Vùng lúa lai, lúa chất lượng cao, hành củ, cà rốt, bắp cải, su hào,… mang lại hiệu quả kinh tế cao được hình thành.
Thực hiện Chương trình “Cánh đồng mẫu lớn”, tỉnh Hải Dương đã xây đề án “Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2016 -2020”. Với ưu tiên là giữ ổn định diện tích lúa, tăng diện tích trồng các loại cây rau màu có giá trị kinh tế cao, tỉnh đã xây dựng được nhiều vùng sản xuất lúa lai, lúa chất lượng cao, với diện tích lớn; đồng thời hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa tập trung cho thu nhập cao. Điển hình như: Vùng vải thiều ở Thanh Hà; lúa thơm Bình Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ; ổi ở Ninh Giang...
Theo tổng hợp báo cáo của Sở Nông nghiệp tỉnh Hải Dương, năm 2020, trên địa bàn tỉnh có 221 cánh đồng lớn, tăng 1,76 lần so với năm 2016. Tổng diện tích gieo trồng của cánh đồng lớn năm 2020 đạt 4,6 nghìn ha, trong đó diện tích trồng lúa 3,4 nghìn ha, chiếm 73,49%. Diện tích gieo trồng bình quân một cánh đồng đạt 20,93 ha, trong đó cánh đồng lúa đạt 29,82 ha. Nông dân đã hạn chế sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa, tạo ra sản phẩm an toàn, bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng. Năm 2020, toàn tỉnh có trên 29,6 nghìn hộ tham gia sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn, tăng 27,7% so với năm 2016. Bình quân số hộ tham gia một cánh đồng lớn là 134 hộ/cánh đồng. Việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung trong sản xuất nông nghiệp của Hải Dương không những hiệu quả về kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn cả về mặt xã hội giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo việc làm và góp phần phát triển nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững, tạo bước đột phá trong nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh.
Tỷ lệ cơ giới hóa tăng nhanh, đặc biệt khâu thu hoạch, gieo trồng. Số liệu điều tra năm 2020 cho thấy, trên địa bàn tỉnh cơ giới hóa được ứng dụng nhanh vào sản xuất lúa: Làm đất bằng máy trên 98%, gặt lúa bằng máy trên 95% tổng diện tích lúa toàn tỉnh. Nhiều mô hình mẫu về sản xuất lúa trên cánh đồng sau dồn điền đổi thửa, áp dụng đồng bộ cơ giới hóa từ khâu làm đất, gieo mạ khay, cấy máy và thu hoạch bằng máy giúp năng suất tăng hơn lúa cấy thủ công từ 8-10%, hiệu quả kinh tế tăng trên 10%
Ứng dụng khoa học công nghệ sản xuất sản phẩm chất lượng cao, liên kết theo chuỗi giá trị được mở rộng ở nhiều địa phương. Đến năm 2020, đã có 20 ha nhà màng, nhà lưới. Các vùng sản xuất chuyên canh theo sản phẩm đặc thù của từng địa phương như rau vụ đông (Gia Lộc, Kim Thành, Nam Sách), cà rốt (Cẩm Giàng), hành tỏi (Kinh Môn), vải thiều (Thanh Hà)... được đầu tư phát triển.
Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, năm 2020, toàn tỉnh đã có gần 553 ha rau màu, cây ăn quả được cấp giấy chứng nhận VietGAP, gần 8.000 ha sản xuất theo quy trình VietGAP; 48 cơ sở chăn nuôi tập trung được cấp chứng nhận VietGAP và có khoảng trên 1.100 hộ chăn nuôi được tập huấn kỹ thuật sản xuất theo VietGAP. Bên cạnh đó, người dân đã bước đầu chủ động thực hiện các biện pháp để truy xuất nguồn gốc nông sản, gắn trách nhiệm, quyền lợi của người sản xuất với người tiêu dùng. Tỉnh đã xây dựng được 37 chuỗi liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp.
Kinh tế trang trại tiếp tục được quan tâm. Tính đến 01/7/2020 toàn tỉnh có 315 trang trại theo tiêu chí Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT, giảm 823 trang trại so với năm 2016 (tiêu chí kinh tế trang trại được quy định theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT). Số trang trại nêu trên đã sử dụng 598 ha đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 48,17%, giảm 555,7 ha so với năm 2016; sử dụng gần 1.200 nghìn lao động, giảm 60,14%, giảm 1.700 nghìn người so với năm 2016; sản xuất ra một khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Tổng giá trị nông, lâm, thủy sản theo giá hiện hành thu được trong 12 tháng trước thời điểm 01/7/2020 của 315 trang trại đạt khoảng 1.500 tỷ đồng, giảm 40,11%, giảm trên 1.000 tỷ đồng so với năm 2016.
Doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản. Theo kết quả điều tra, tại thời điểm 31/12/2020 toàn tỉnh có 365 doanh nghiệp, HTX đang hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 14,1% so với năm 2016, trong đó có 3 doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp đã giải quyết việc làm cho khoảng 6,1 nghìn lao động, bình quân 17 lao động/doanh nghiệp. Doanh thu bình quân một doanh nghiệp đạt 7,2 tỷ đồng, cao hơn nhiều so mức 2,6 tỷ đồng năm 2016; thu nhập bình quân của người lao động đạt gần 3,5 triệu đồng/người/tháng, cao hơn mức 1,9 triệu đồng/người/tháng năm 2016.
Hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản có nhiều chuyển biến trong quản lý và qui mô sản xuất. Tính đến thời điểm 31/12/2020, toàn tỉnh có 269 hợp tác xã đang hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 6,6 % so với năm 2016; giải quyết việc làm cho gần 3,7 nghìn lao động khu vực nông thôn, quy mô bình quân 1 hợp tác xã là 14 lao động/HTX. Doanh thu của các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 bình quân đạt 5,6 tỷ đồng/hợp tác xã, thu nhập bình quân của lao động thường xuyên đạt gần 2,3 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên khu vực HTX phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.