Cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026Lễ khởi động gói thầu Thiết kế và cung cấp hàng hóa thuộc Dự án Xây dựng Kho dữ liệu thống kê đặc tả và dữ liệu vi môHội nghị tập huấn Hướng dẫn biên soạn 02 chỉ tiêu tổng hợp cấp xãCục Thống kê tổ chức họp góp ý Hồ sơ xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2017/NĐ-CPHội nghị bàn giao Trường Cao đẳng Thống kê II thuộc Cục Thống kê cho Trường Đại học Tài chính – MarketingHội thảo công bố kết quả phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoàiHội nghị tập huấn Điều tra thí điểm giá sản xuất xây dựngPhó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu tham gia chỉ đạo và giám sát Điều tra I-O năm 2026 tại Nghệ AnCục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương tiếp Đoàn công tác Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt NamHội thảo xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xãCục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026Lễ khởi động gói thầu Thiết kế và cung cấp hàng hóa thuộc Dự án Xây dựng Kho dữ liệu thống kê đặc tả và dữ liệu vi môHội nghị tập huấn Hướng dẫn biên soạn 02 chỉ tiêu tổng hợp cấp xãCục Thống kê tổ chức họp góp ý Hồ sơ xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2017/NĐ-CPHội nghị bàn giao Trường Cao đẳng Thống kê II thuộc Cục Thống kê cho Trường Đại học Tài chính – MarketingHội thảo công bố kết quả phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoàiHội nghị tập huấn Điều tra thí điểm giá sản xuất xây dựngPhó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu tham gia chỉ đạo và giám sát Điều tra I-O năm 2026 tại Nghệ AnCục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương tiếp Đoàn công tác Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt NamHội thảo xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã

Dấu ấn thống kê

Mỹ thuật đương đại Việt Nam trong hành trình hội nhập

Mỹ thuật đương đại hay nói rộng hơn là nghệ thuật đương đại ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với đa số các nước khác ở phương Tây. Sau một thời gian dài đi theo mô hình hiện thực xã hội chủ nghĩa tới thời kỳ Mở cửa, khoảng từ năm 1986-1990, chúng ta mới có cơ hội tiếp cận với thế giới nghệ thuật bên ngoài, và từ đó manh nha xuất hiện những tác phẩm và nghệ sĩ có những sáng tác được coi là“đương đại”- không chỉ với các đặc điểm giàu tính ý niệm và coi trọng tiến trình sáng tác hơn là bản thân tác phẩm, mà còn bắt đầu xuất hiện các hình thức thể hiện đương đại khác nhau như: Trình diễn, sắp đặt, video-art.
 
Mỹ thuật đương đại Việt Nam trong hành trình hội nhập

Ảnh minh họa, nguồn Internet

Sự xuất hiện của nghệ thuật đương đại với các hình thức sắp đặt, trình diễn, video art, video act... dần trở nên không còn xa lạ dù chưa thật gần gũi với số đông công chúng nước nhà. Nếu như trên thế giới, trào lưu này thịnh hành từ những năm 50-60 của thế kỷ XX thì sự ra đời và phát triển của nó ở Việt Nam dẫu muộn hơn vài thập kỷ song cũng là một tất yếu trong đời sống nghệ thuật hiện đại. Mở đầu là một vài triển lãm đơn lẻ theo hình thức sắp đặt, đôi khi kết hợp trình diễn của một số tác giả như Trương Tân, Nguyễn Minh Thành, Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Quang Huy... Họ thường tổ chức công khai hoặc bán công khai ở một số gallery, nhà riêng, Viện Goethe... Với những biểu đạt mới lạ, trực tiếp lúc bấy giờ như phản ánh tình yêu, suy tư về các vấn đề xã hội... Dần dần, thực hành nghệ thuật đương đại trở thành trào lưu, công khai, ít nhiều tạo được những làn sóng có một số sự kiện được tổ chức với quy mô lớn, thu hút khá nhiều nghệ sĩ tham gia. Một số địa điểm có tiếng đã đi vào hoạt động như Trung tâm Mỹ thuật đương đại của Hội Mỹ thuật Việt Nam, Nhà sàn Ðức, Ryllega gallery do Quỹ Ðông Sơn Today tài trợ, Studio Anh Khánh, Gia Lâm (Hà Nội); Sàn Art (TP Hồ Chí Minh); Trung tâm nghệ thuật Không gian mới (Huế)... Bên cạnh đó là sự giúp đỡ tích cực cả về kinh phí và địa điểm tổ chức của Viện Goethe, Hội đồng Anh, Trung tâm văn hóa Pháp, Quỹ phát triển và trao đổi văn hóa Việt Nam - Ðan Mạch (CDEF)...

Từ chỗ không chính thức, ít người biết và nhiều khi gặp phải sự phản đối, phê phán của dư luận, nghệ thuật đương đại dần được công nhận, có chỗ đứng nhất định trong giới nghệ thuật, được nhà trường và sinh viên Ðại học Mỹ thuật hưởng ứng, tổ chức các sự kiện nghệ thuật mang tính toàn quốc như Festival Mỹ thuật trẻ toàn quốc lần I và lần II (năm 2007 và 2011), Cuộc thi Tài năng nghệ thuật trình diễn 2008, Biennale Mỹ thuật trẻ TP Hồ Chí Minh 2009...

Điểm nổi bật của nghệ thuật đương đại là khả năng tác động mạnh, trực tiếp đến thị giác người xem. Trong nghệ thuật đương đại, sắp đặt và trình diễn là hai thể loại thông dụng, phổ biến, trong đó sắp đặt chiếm ưu thế hơn. Phương tiện biểu đạt đa dạng, linh hoạt, có thể vận dụng ngay các chất liệu sẵn có, gần gũi với đời sống hằng ngày. Khả năng truyền đạt nhanh ý tưởng và thông điệp của người nghệ sĩ, phù hợp nhịp điệu, lối sống của xã hội thông tin, công nghiệp; tạo ấn tượng thẩm mỹ bất ngờ, gây sốc, hài hước; ngôn ngữ biểu đạt bình dân, có thể mở rộng ra không gian sống, nơi công cộng nên thu hút được người xem, giúp họ dễ tiếp cận, cùng tham gia vào quá trình hình thành tác phẩm. Ðó là những thế mạnh nổi bật của nghệ thuật đương đại. Song hạn chế lớn của dòng nghệ thuật này là khả năng lưu giữ, bảo tồn kém.

Họa sĩ đương đại không bị gò bó bởi một phương pháp sáng tạo nào mà đã xuất hiện những khuynh hướng đa chiều, đa diện hơn  được  chấp  nhận.Về  hội  họa:  Từ  chất  liệu giấy dó, lụa, nay đã thêm nhiều chất liệu mới  như:  Sơn  dầu,  sơn  mài,  phấn,  bột màu, than, chì được vẽ trên giấy, vải, gỗ, đá, kính... và không gian  cũng  được  thay  đổi  lớn. Nhiều tác phẩm nghệ thuật đương đại ở Việt Nam đã chạm được đến những vấn đề phức tạp không dễ thể hiện bằng ngôn ngữ hội họa, điêu khắc thuần túy, đó là: Tự do và giới tính, con người và bản năng, triết lý nhân sinh, chiến tranh, bạo lực, đạo đức xã hội, ô nhiễm môi trường, những bất cập trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và sự phát triển xã hội... Nhiều tác giả có ý tưởng độc đáo đã làm nên thành công, đem lại những sáng tạo ấn tượng. Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như: Ðất qua lửa (sắp đặt-1994) và Rằm tháng bảy (sắp đặt-1999) của Nguyễn Bảo Toàn; Tháp mâm (sắp đặt-2004) của Ly Hoàng Ly; Váy cưới (sắp đặt-2002) của Trương Tân; Người nông dân và máy bay trực thăng (sắp đặt kết hợp video art- 2006) của Lê Quang Ðỉnh; Thế giới xanh (video art-2011) của Lê Trần Hậu Anh; các tác phẩm sắp đặt đầy tính dân gian của Ðặng Thị Khuê, một số chương trình biểu diễn sắp đặt kết hợp trình diễn ngoài trời với không gian hoành tráng và kỹ thuật dàn dựng công phu của Ðào Anh Khánh...

Có thể thấy, cùng với thành công của sự nghiệp Đổi mới đất nước, nền mỹ thuật nước nhà đã có một lớp họa sĩ dám thay đổi, dám làm mới. Từ những cái khác biệt của cuộc sống muôn màu thời Đổi mới, các họa sĩ đã biết chắt lọc những gì là tinh túy để tiếp nhận và phản ánh trong tác phẩm, tìm ra con đường xuyên suốt trong tư duy sáng tạo và xây dựng được một lý thuyết nghệ thuật riêng./.
 
                                                                                            PV

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965