Cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026Lễ khởi động gói thầu Thiết kế và cung cấp hàng hóa thuộc Dự án Xây dựng Kho dữ liệu thống kê đặc tả và dữ liệu vi môHội nghị tập huấn Hướng dẫn biên soạn 02 chỉ tiêu tổng hợp cấp xãCục Thống kê tổ chức họp góp ý Hồ sơ xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2017/NĐ-CPHội nghị bàn giao Trường Cao đẳng Thống kê II thuộc Cục Thống kê cho Trường Đại học Tài chính – MarketingHội thảo công bố kết quả phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoàiHội nghị tập huấn Điều tra thí điểm giá sản xuất xây dựngPhó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu tham gia chỉ đạo và giám sát Điều tra I-O năm 2026 tại Nghệ AnCục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương tiếp Đoàn công tác Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt NamHội thảo xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xãCục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026Lễ khởi động gói thầu Thiết kế và cung cấp hàng hóa thuộc Dự án Xây dựng Kho dữ liệu thống kê đặc tả và dữ liệu vi môHội nghị tập huấn Hướng dẫn biên soạn 02 chỉ tiêu tổng hợp cấp xãCục Thống kê tổ chức họp góp ý Hồ sơ xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2017/NĐ-CPHội nghị bàn giao Trường Cao đẳng Thống kê II thuộc Cục Thống kê cho Trường Đại học Tài chính – MarketingHội thảo công bố kết quả phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoàiHội nghị tập huấn Điều tra thí điểm giá sản xuất xây dựngPhó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu tham gia chỉ đạo và giám sát Điều tra I-O năm 2026 tại Nghệ AnCục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương tiếp Đoàn công tác Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt NamHội thảo xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã

Dấu ấn thống kê

Năm 2023, mục tiêu GDP tăng 6,5%: Thách thức nhưng khả thi

Để tiếp tục phục hồi, phát triển kinh tế trong năm 2023, Quốc hội đã đặt ra mục tiêu GDP đạt khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.400 USD. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 25,4 - 25,8%...

Mục tiêu này tạo ra những kỳ vọng, nhưng cũng có những vấn đề đặt ra khi thực hiện.

Năm bản lề 2023

Trước tiên, phải khẳng định, mục tiêu này có tính khả thi. Tính khả thi được nhận diện dưới 3 góc độ khác nhau. Ở góc độ thứ nhất, đó là sự tiếp tục của đà hồi phục tăng trưởng với tốc độ rất cao (8,02%) của năm 2022. Ở góc độ thứ hai, đó là sự thể hiện tính thận trọng của các nhà hoạch định vĩ mô, khi gốc so sánh đã chuyển từ rất thấp (trong năm 2020, 2021) sang khá cao (trong năm 2022), nên tốc độ tăng của 2023 sẽ không thể cao như năm 2022. Ở góc độ thứ ba, kinh tế đang có những khó khăn và đứng trước những thách thức không nhỏ. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra một số nguy cơ là cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, chênh lệch thu nhập giàu nghèo, đại dịch, phục hồi kinh tế…

Tuy nhiên, tăng trưởng GDP không chỉ có tính khả thi, mà còn phải đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong kế hoạch 5 năm (2021 - 2025). Mục tiêu này đề ra yêu cầu tốc độ tăng GDP bình quân năm trong 5 năm 2021 - 2025 là

6,5 - 7%. Theo đó, GDP đến năm 2025 so với năm 2020 phải tăng 37 - 40,3%. Năm 2021 đã tăng 2,56%, năm 2022 đã tăng 8,02%, năm 2022 so với năm 2020 tăng 10,79% (bình quân 1 năm tăng 5,26% và 3 năm còn lại phải tăng 23,7 - 26,6%, bình quân 1 năm phải tăng 7,35 - 8,19%, là những tốc độ tăng khá cao, không dễ đạt được. Năm 2023 là năm bản lề trong 5 năm 2021 - 2025. Nếu năm 2023 không đạt được tốc độ cao như trên, thì gánh nặng sẽ dồn vào 2 năm cuối của kế hoạch 5 năm.

Do vậy, vấn đề đặt ra trong chỉ đạo điều hành là năm 2023 phải tăng cao hơn mục tiêu 6,5% theo Nghị quyết của Quốc hội để phấn đấu đạt được mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2021 - 2025.

Hướng tới thu nhập bình quân đầu người đạt 4.400 USD

Khi GDP bình quân đầu người vượt qua mốc 1.000 USD, Việt Nam ra khỏi nhóm thu nhập thấp, chuyển sang nhóm nước thu nhập trung bình (thấp); sau nhiều năm tăng liên tục đến năm 2021 đạt 3.717 USD.

GDP bình quân đầu người phụ thuộc vào 3 yếu tố: GDP tính bằng VND (giá thực tế); tỷ giá VND/USD bình quân năm; dân số trung bình năm. Năm 2023, tốc độ tăng GDP (giá so sánh) theo mục tiêu là 6,5%; nếu chỉ số giảm phát GDP cao hơn năm 2022 (4% so với 3,86%), thì tốc độ tăng GDP theo giá thực tế sẽ tăng 10,61%, hay đạt 10.523 nghìn tỷ đồng. Tỷ giá VND/USD bình quân năm 2023 tăng 1,5% so với 2022, thì giá USD năm 2023 sẽ đạt 23.622 VND.

Dân số trung bình năm 2023 tăng 0,97% (như 2022). GDP bình quân đầu người tính bằng VND sẽ đạt 104,78 triệu đồng/người. GDP bình quân đầu người tính bằng USD năm 2023 sẽ đạt 4.436 USD. Theo đó, mục tiêu 2023 với 4.400 USD/người là có tính khả thi.

Để đạt được mục tiêu này cần tập trung thực hiện một số giải pháp quan trọng. Trước hết, tăng trưởng GDP phải đạt được mục tiêu tăng 6,5% và phải đạt cao hơn. Muốn vậy, phải tăng đầu tư, tiêu dùng cuối cùng và xuất siêu. Đầu tư phải tăng quy mô, tức là phải cao hơn tỷ lệ/GDP của năm 2022 (33,8%), đạt trở lại tỷ lệ trên 34% như các năm trước đó, trong đó đầu tư công 696,7 nghìn tỷ đồng, bằng 33,6% tổng chi ngân sách; thực hiện gói cấp bù lãi suất… Còn phải tăng hiệu quả đầu tư, tức là hệ số ICOR phải thấp hơn mức của năm 2022 (dưới 6 lần).

Tiêu dùng cuối cùng năm 2022 đã tăng rất cao (giá thực tế tăng 19,8%, nếu loại giá tăng 15,6%), nhưng chủ yếu do năm 2021 ở mức rất thấp. Năm 2023 sẽ khó đạt được các tốc độ tăng như năm trước, nhưng phải có mức tăng cao hơn để có quy mô đạt được như trước đại dịch (năm 2022 quy mô chỉ bằng 82,5% năm 2019, trước đại dịch). Muốn vậy, ngoài việc tăng lương công viên chức, lương hưu, thì cần không tăng giá các loại dịch vụ do Nhà nước định giá, cân nhắc giảm tỷ suất một số loại thuế, phí…

Công nghiệp chế biến, chế tạo (CNCBCT) có vai trò quan trọng, được coi là tiêu chí trọng yếu nhất và có tác động đến nhiều tiêu chí khác của nước công nghiệp.

Tỷ trọng CNCBCT/GDP qua một số năm đã liên tục tăng lên. Năm 2022, tỷ trọng trên đạt 24,76%. Với tỷ trọng đã đạt được trên dưới 24,8% trong năm 2021, 2022 và với tốc độ tăng của CNCBCT cao hơn tốc độ tăng GDP chung thì mục tiêu 2023 ở mức 25,4 - 25,8% không phải quá cao, mà có tính khả thi.

Hơn nữa, cơ cấu trong CNCBCT có một số ưu thế đáng lưu ý. Do tỷ trọng về GDP cao hơn tỷ trọng về lao động đang làm việc chứng tỏ CNCBCT có năng suất lao động cao hơn mức năng suất lao động. Cơ cấu CNCBCT trong khối DN theo trình độ công nghệ (cao, trung bình, thấp) đã có sự chuyển dịch tích cực. Trong khi công nghệ trung bình và công nghệ thấp giảm tương ứng. Tỷ trọng hàng xuất khẩu của CNCBCT tăng và hiện ở mức cao (từ 92,5% năm 2015 lên 96,2% năm 2021).

Tuy nhiên, CNCBCT còn có những hạn chế và đứng trước những thách thức không nhỏ. Về tỷ trọng, hiện đã cao hơn mục tiêu 20% nhưng đó là mục tiêu quá thấp, phải được nâng lên (trên 30% vào năm 2025). Công nghiệp hỗ trợ còn yếu; số DN công nghiệp hỗ trợ chỉ có 300/1.800 DN tham gia chuỗi cung ứng của các công ty quốc gia. Do công nghiệp hỗ trợ còn yếu, tính gia công lắp ráp còn lớn, nên thực thu thấp, nhập khẩu cao./.

 Đức Minh

Nguồn:https://kinhtedothi.vn

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965