(Tính đến trung tuần tháng 9/2022)
so với cùng thời điểm năm trước
|
Ước tính quý III/2022 |
Cộng dồn 9 tháng/2022 |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | ||
| Quý III/2022 | 9 tháng/2022 | |||
| Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Nghìn tấn) | ||||
| Thịt trâu | 26,2 | 88,2 | 2,9 | 2,1 |
| Thịt bò | 107,8 | 348,9 | 3,6 | 4,2 |
| Thịt lợn | 1.116,4 | 3.232,7 | 6,0 | 5,8 |
| Thịt gia cầm | 486,4 | 1.467,1 | 4,0 | 4,8 |
| Trứng (Triệu quả) | 4.614,0 | 13.441,1 | 4,4 | 4,7 |
| Sữa (Nghìn tấn) | 314,4 | 932,1 | 10,7 | 10,3 |
năm trước các năm 2018-2022 của một số ngành công nghiệp trọng điểm
| 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | |
|
Sản xuất đồ uống |
8,2 |
11,0 |
-6,2 |
-3,8 |
31,9 |
| Sản xuất trang phục | 10,9 | 8,4 | -5,5 | 4,5 | 22,5 |
| Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan | 10,5 | 8,9 | -4,1 | 4,8 | 20,4 |
| Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu | 25,2 | -2,8 | 32,2 | -20,6 | 18,3 |
| Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu | 2,4 | 12,4 | -2,3 | 4,1 | 17,3 |
| Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện | 2,5 | 9,8 | -5,6 | 3,2 | 16,4 |
| Sản xuất thiết bị điện | 7,5 | 10,4 | 0,4 | -0,4 | 14,9 |
| Sản xuất phương tiện vận tải khác | 5,7 | -5,8 | -9,3 | -2,7 | 11,4 |
| Sản xuất sản phẩm thuốc lá | 5,2 | 4,0 | 7,4 | -3,2 | 11,4 |
| Sản xuất kim loại | 19,7 | 36,7 | 4,6 | 27,5 | -0,8 |
| Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic | 3,4 | 15,0 | 3,9 | -1,8 | -5,4 |
Hình 5. Tốc độ tăng/giảm IIP 9 tháng năm 2022
so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực 9 tháng năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bia tăng 35,8%; thủy hải sản chế biến tăng 20,4%; linh kiện điện thoại tăng 17,3%; ô tô tăng 16,5%; thép thanh, thép góc tăng 15,4%; quần áo mặc thường tăng 13,2%; thuốc lá điếu tăng 11,4%; giày, dép da tăng 10,2%; sơn hóa học tăng 10,1%; bột ngọt tăng 9,6%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Sắt, thép thô giảm 13,7%; điện thoại di động giảm 5,8%; phân hỗn hợp NPK giảm 4,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 3,3%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 3,1%; khí hóa lỏng LPG giảm 2,5%; tivi các loại giảm 1,8%; dầu thô khai thác giảm 0,6%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2022 tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2021 (cùng kỳ năm 2021 tăng 2,8%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2022 tăng 7,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 28,2%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2022 là 76,4% (bình quân 9 tháng năm 2021 là 81,1%).
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2022 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 21,8% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 6,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,5% và tăng 17,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,4% và tăng 25,8%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,2% và tăng 23,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 2,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và tăng 5,5%.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động 9 tháng năm 2022 đạt 163,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 3.908,2 nghìn tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 112,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,8% so với 9 tháng năm 2021. Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý IV/2022 với 82,6% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý III/2022.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[14]
Trong tháng Chín, cả nước có 11.466 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 136 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 61,9 nghìn lao động, giảm 3,8% về số doanh nghiệp, tăng 4,5% về vốn đăng ký và giảm 17,7% về số lao động so với tháng 08/2022; so với cùng kỳ năm 2021, tăng 194,1% về số doanh nghiệp, tăng 117,9% về số vốn đăng ký và tăng 24,1% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 11,9 tỷ đồng, tăng 8,6% so với tháng trước và giảm 25,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong tháng, cả nước còn có 5.118 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 20,7% so với tháng trước và tăng 54,3% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, cả nước có 112,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.272,3 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 758,1 nghìn lao động, tăng 31,9% về số doanh nghiệp, tăng 6,4% về vốn đăng ký và tăng 16,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đạt 11,3 tỷ đồng, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 2.635,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 38,7 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 3.908,2 nghìn tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 50,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 56,1% so với 9 tháng năm 2021, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng lên 163,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 18,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, 9 tháng năm nay có 1.543 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước; 27,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 20,8%; 83,3 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 36,8%.
Hình 6. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Cũng trong tháng Chín, có 2.935 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 21,9% so với tháng trước và tăng 31% so với cùng kỳ năm 2021; có 4.187 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 6% và tăng 66,9%; có 1.516 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 22,4% và tăng 150,2%.
Tính chung 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 62,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm trước; 36,3 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 12,1%; 13,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 8%. Bình quân một tháng có 12,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Biểu 3. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể 9 tháng năm 2022
phân theo một số lĩnh vực hoạt động
| Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) | Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
| Thành lập mới | Giải thể | Thành lập mới | Giải thể | |
| Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy | 39.765 | 4.842 | 37,5 | 3,0 |
| Công nghiệp chế biến chế tạo | 14.391 | 1.635 | 30,5 | 11,0 |
| Xây dựng | 12.136 | 1.273 | 13,9 | 7,4 |
| Kinh doanh bất động sản | 7.124 | 870 | 31,9 | 36,8 |
| Vận tải kho bãi | 5.500 | 512 | 30,4 | -10,3 |
| Dịch vụ lưu trú và ăn uống | 4.840 | 668 | 67,4 | -8,2 |
| Sản xuất phân phối, điện, nước, gas | 817 | 345 | -15,0 | 27,8 |
|
Ước tính
tháng 9
năm 2022 |
Ước tính quý III năm 2022 |
Ước tính 9 tháng năm 2022 |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Tháng 9 năm 2022 |
Quý III năm 2022 |
9 tháng năm 2022 | ||||
|
Tổng số | 493,1 | 1.450,4 | 4.170,2 | 36,1 | 41,7 | 21,0 |
|
Bán lẻ hàng hóa
| 379,3 | 1.125,1 | 3.300,0 | 19,9 | 25,5 | 15,8 |
|
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
| 53,6 | 159,9 | 430,9 | 129,1 | 145,6 | 54,7 |
|
Du lịch lữ hành
| 3,0 | 9,6 | 18,2 | 3.106,2 | 3.954,4 | 294,9 |
|
Dịch vụ khác
| 57,2 | 155,8 | 421,1 | 154,2 | 153,7 | 34,5 |
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2022 có quy mô cũng như tốc độ tăng cao hơn so với cùng kỳ nhiều năm lại đây và tăng 14,2% so với 9 tháng năm 2019 - năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù vậy, quy mô của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2022 ước tính chỉ đạt khoảng 84% trong điều kiện bình thường không bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
9 tháng các năm 2018-2022
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2022 ước đạt 3.300 nghìn tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước[20] (loại trừ yếu tố giá tăng 11,6%), chủ yếu do doanh thu cùng kỳ năm trước đạt thấp vì ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong đó, nhóm vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 25,9%; may mặc tăng 16,6%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 15,3%; lương thực, thực phẩm tăng 11,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,9%. Bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm nay phục hồi tích cực với doanh thu tăng 19% so với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Khánh Hòa tăng 60,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 57,2%, Bình Dương tăng 43,0%; Cần Thơ tăng 41,1%; Hà Nội tăng 40,4%; Đà Nẵng tăng 39,5%; Hải Phòng tăng 31,2%; Quảng Ninh tăng 27,3%
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm 2022 ước đạt 430,9 nghìn tỷ đồng, tăng 54,7% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu vui chơi và du lịch của người dân tăng cao trong dịp hè[21]. Mặc dù vậy doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm nay chỉ bằng 97,8% so với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Cần Thơ tăng 122,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 100,2%; Hà Nội tăng 92,4%; Quảng Ninh tăng 84,7%; Đà Nẵng tăng 84,0%; Đồng Nai tăng 55,5%; Bình Dương tăng 48,7%.
Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng năm 2022 ước đạt 18,2 nghìn tỷ đồng, gấp 3,9 lần so với cùng kỳ năm trước do hoạt động du lịch phục hồi mạnh mẽ[22], đặc biệt là du lịch nội địa. Tuy nhiên, doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng năm nay mới chỉ bằng 55,9% so với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu 9 tháng năm 2022 của một số địa phương so với cùng kỳ năm trước như sau: Cần Thơ tăng 766,8%; Đà Nẵng tăng 634,7%; Hà Nội tăng 386,3%; Hải Phòng tăng 277%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 151,9%; Quảng Ninh tăng 90,3%.
Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng năm 2022 ước đạt 421,1 nghìn tỷ đồng, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước[23]. Cụ thể mức tăng 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 85,8%; Cần Thơ tăng 55%; Thanh Hóa tăng 31,6%; Hà Nội tăng 30,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 23,8%; Bình Dương tăng 19,8%; Hải Phòng tăng 14,6%.
b) Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải trong tháng Chín tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ cả về vận tải hành khách và hàng hóa. Trong đó, vận chuyển hành khách gấp 3,9 lần và luân chuyển hành khách gấp 5,7 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa tăng 52,6% về vận chuyển và tăng 60,4% về luân chuyển.
Quý III/2022, vận tải hành khách gấp 3,9 lần về vận chuyển và gấp 5,3 lần về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hoá tăng lần lượt là 65,5% và 63,7%. Tính chung 9 tháng năm 2022, vận chuyển hành khách tăng 40,7% và luân chuyển tăng 59,4% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 24,4% và luân chuyển tăng 31% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách tháng Chín ước đạt 323,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,1% so với tháng trước và luân chuyển 14,4 tỷ lượt khách.km, tăng 2,1%. Tính chung 9 tháng năm 2022, vận tải hành khách ước đạt 2.842,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 40,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 23,7%) và luân chuyển đạt 132 tỷ lượt khách.km, tăng 59,4% (cùng kỳ năm trước giảm 30,8%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 2.839,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 40,6% so với cùng kỳ năm trước và 122,6 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 48,7%; vận tải ngoài nước đạt 3 triệu lượt khách vận chuyển, gấp 32,7 lần và 9,4 tỷ lượt khách.km luân chuyển, gấp 29 lần cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách mặc dù đã có nhiều khởi sắc nhưng sản lượng vận chuyển 9 tháng năm nay chỉ bằng 75,5% và luân chuyển bằng 71,5% so với cùng kỳ năm 2019.
Biểu 5. Vận tải hành khách 9 tháng năm 2022
phân theo ngành vận tải
| Số lượt hành khách |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Vận chuyển (Triệu HK) |
Luân chuyển (Tỷ HK.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 2.842,3 | 132,0 | 40,7 | 59,4 |
| Đường sắt | 3,5 | 1,3 | 180,6 | 145,5 |
| Đường biển | 5,5 | 0,3 | 34,9 | 43,9 |
| Đường thủy nội địa | 190,0 | 3,1 | 42,5 | 33,3 |
| Đường bộ | 2.605,6 | 85,1 | 39,5 | 26,0 |
| Hàng không | 37,7 | 42,2 | 181,5 | 245,2 |
| Sản lượng hàng hóa |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Vận chuyển (Triệu tấn) |
Luân chuyển (Tỷ tấn.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 1.492,7 | 318,1 | 24,4 | 31,0 |
| Đường sắt | 4,4 | 3,4 | 6,6 | 24,2 |
| Đường biển | 77,8 | 171,5 | 27,5 | 37,7 |
| Đường thủy nội địa | 298,6 | 65,6 | 26,3 | 30,9 |
| Đường bộ | 1.111,7 | 73,1 | 23,8 | 17,9 |
| Hàng không | 0,2 | 4,5 | 8,9 | 27,2 |
9 tháng các năm 2018-2022
theo giá hiện hành 9 tháng các năm giai đoạn 2018-2022 (%)
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2022 ước đạt 334,5 nghìn tỷ đồng, bằng 58,7% kế hoạch năm và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 55,7% và giảm 5,7%). Theo cấp quản lý, vốn trung ương đạt 59,5 nghìn tỷ đồng, bằng 53,5% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương đạt 275 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% và tăng 19,5%. Trong vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 180,6 nghìn tỷ đồng, bằng 56,8% và tăng 16,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 81,2 nghìn tỷ đồng, bằng 66% và tăng 29%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 13,2 nghìn tỷ đồng, bằng 75,5% và tăng 10,6%.
các năm 2018-2022 (Tỷ USD)
9 tháng các năm 2018-2022
Xuất khẩu hàng hóa
|
|
Ước tính 9 tháng năm 2022 (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%) |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD | ||
| Điện thoại và linh kiện | 45.396 | 10,7 |
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 41.511 | 13,3 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác | 34.063 | 29,8 |
| Dệt, may | 29.135 | 24,3 |
| Giày dép | 18.169 | 36,6 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 12.257 | 10,0 |
Hình 16. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm 2022 phân theo nhóm hàng
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm 2022, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản chiếm 1,4%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89%, giảm 0,1 điểm phần trăm; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 6,6%, giảm 0,6 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 3%, tăng 0,4 điểm phần trăm.
Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 8/2022 đạt 31,06 tỷ USD, cao hơn 99 triệu USD so với số ước tính.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2022 ước đạt 28,8 tỷ USD, giảm 7,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,8 tỷ USD, giảm 5,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 19 tỷ USD, giảm 8,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Chín tăng 6,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,8%.
Trong quý III/2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 90,7 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước và giảm 7,1% so với quý II/2022.
Tính chung 9 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 276 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 96,11 tỷ USD, tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 179,89 tỷ USD, tăng 12,7%.
Trong 9 tháng năm 2022 có 42 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,3% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 45,5%).
Biểu 8. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu 9 tháng năm 2022
|
Ước tính 9 tháng năm 2022 (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%) | |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD | ||
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 63.937 | 18,5 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác | 34.434 | -1,1 |
| Điện thoại và linh kiện | 15.666 | 5,5 |
| Vải | 11.463 | 9,0 |
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 86,3 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 91,6 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2022, xuất siêu sang EU ước đạt 24,3 tỷ USD, tăng 48,2% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang Nhật Bản 10 triệu USD, (cùng kỳ nhập siêu 1,7 tỷ USD); nhập siêu từ Trung Quốc 51,5 tỷ USD, tăng 21,3%; nhập siêu từ Hàn Quốc 29,6 tỷ USD, tăng 20,8%; nhập siêu từ ASEAN 9,3 tỷ USD, giảm 1,6%.
Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng Tám xuất siêu 3,86 tỷ USD[31]; 8 tháng năm 2022 xuất siêu 5,38 tỷ USD; tháng Chín ước tính xuất siêu 1,14 tỷ USD. Tính chung 9 tháng năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 6,52 tỷ USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 3,44 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 22,89 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 29,41 tỷ USD.
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý III/2022, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 3,8 tỷ USD, tăng 174,6% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 34,2% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 6,9 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,4% so với quý trước.
Tính chung 9 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,2 tỷ USD, tăng 118,4% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó dịch vụ du lịch đạt 1,9 USD (chiếm 24,1% tổng kim ngạch), tăng gấp 18 lần so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ vận tải đạt 3,7 tỷ USD (chiếm 45,8%), tăng 164,1%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm 2022 ước đạt 19,4 tỷ USD, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,7 tỷ USD (chiếm 49,7% tổng kim ngạch), tăng 25,2%; dịch vụ du lịch đạt 4,7 tỷ USD (chiếm 24,2%), tăng 75,4%. Nhập siêu dịch vụ 9 tháng năm 2022 là 11,2 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu là 6,9 tỷ USD).
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2022 tăng 0,4% so với tháng trước chủ yếu do giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và một số địa phương tăng học phí năm học mới 2022-2023. So với tháng 12/2021, CPI tháng Chín tăng 4,01% và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,94%.
CPI bình quân quý III/2022 tăng 3,32% so với quý III/2021. Bình quân 9 tháng năm nay, CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,88%.
Hình 19. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 9, quý III và 9 tháng
các năm giai đoạn 2018-2022 (%)
Trong mức tăng 0,4% của CPI tháng 9/2022 so với tháng trước, 9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
(1) Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
- Nhóm giáo dục có mức tăng cao nhất với 5,84%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 6,48%[32] do thời gian miễn, giảm học phí trong đại dịch tại nhiều địa phương đã kết thúc, đồng thời một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về việc quy định mức thu học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục từ năm học 2022-2023 trở đi tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn. Ngoài ra, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập phải tự chủ về kinh phí điều chỉnh mức tăng học phí phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, chuẩn bị vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng. Giá sách giáo khoa tăng 1,41%; giá vở, giấy viết các loại tăng 0,92%; bút viết các loại tăng 0,9% so với tháng trước.
- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,94% chủ yếu do giá thuê nhà thực tế tăng 8,16%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,33%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,07%; giá dầu hỏa tăng 0,06%. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt tháng Chín giảm 0,42% so với tháng trước[33]; giá gas giảm 1,72%[34].
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,18%, tác động CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm, trong đó: Lương thực giảm 0,08%[35], tác động giảm 0,003 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 0,16%[36], tác động tăng 0,03 điểm phần trăm; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,32%[37], tác động tăng 0,03 điểm phần trăm.
- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16% do giá nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí nhân công và nhu cầu mua sắm chuẩn bị bước vào năm học mới tăng.
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16% tập trung chủ yếu ở các mặt hàng như: Giá giường, tủ, bàn ghế tăng 0,2%; máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 1,18%; ổn áp điện tăng 0,18%; nồi cơm điện tăng 0,36%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,23%; tủ lạnh tăng 0,15%... Ở chiều ngược lại, giá lò vi sóng, lò nướng, bếp từ giảm 0,64% so với tháng trước; đồ dùng kim loại giảm 0,14%.
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14% tập trung chủ yếu ở giá dịch vụ chăm sóc người già tại nhà dưỡng lão tăng 2,19%; mặt hàng chăm sóc cơ thể như kem dưỡng da, son môi và nước hoa tăng 0,22%; vật dụng về hỉ, vật dụng tang lễ, thờ cúng tăng lần lượt 0,68%, 0,19%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,25%.
- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13% do giá nguyên liệu sản xuất đồ uống, thuốc lá tăng.
- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%, trong đó: Dịch vụ y tế tăng 0,01%.
- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% tập trung chủ yếu ở các nhóm: Giá dịch vụ du lịch trong nước tăng 0,3%; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,12%, vé xem phim, ca nhạc tăng 0,28%.
(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:
- Nhóm giao thông giảm 2,23% góp phần giảm CPI chung 0,22 điểm phần trăm, do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 05/9/2022, 12/9/2022 và 21/9/2022; giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,44%. Ở chiều ngược lại, giá xe ô tô mới tiếp tục tăng 0,17% do thiếu nguồn cung linh kiện, phụ tùng.
- Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%.
CPI bình quân quý III/2022 tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Giao thông tăng 10,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,65%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,45%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,83%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,42%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,03%; giáo dục tăng 1,84%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,44%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,17%.
CPI bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 2,73% so với bình quân cùng kỳ năm 2021. CPI 9 tháng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
(i) Giá xăng dầu trong nước tăng 41,07% so với cùng kỳ năm trước (tác động làm CPI chung tăng 1,48 điểm phần trăm); giá gas tăng 18,75% (làm CPI chung tăng 0,27 điểm phần trăm).
(ii) Giá ăn uống ngoài gia đình tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm) do dịch Covid-19 đã được kiểm soát, nhu cầu ăn ngoài nhà hàng tăng.
(iii) Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở 9 tháng tăng 7,88% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm.
(iv) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm); giá gạo tăng 1,14% (làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm).
Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 9 tháng năm 2022:
(i) Giá dịch vụ giáo dục giảm 1,88% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí trong năm học 2021-2022 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, làm CPI chung giảm 0,1 điểm phần trăm.
(ii) Giá bưu chính viễn thông giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại di động giảm.
(iii) Để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.
Lạm phát cơ bản[38] tháng 9/2022 tăng 0,47% so với tháng trước, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 1,88% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,73%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/9/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.702,79 USD/ounce, giảm 4,74% so với tháng 8/2022 khi Mỹ thắt chặt chính sách tiền tệ. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2022 giảm 1,71% so với tháng trước; tăng 1,34% so với tháng 12/2021; tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 6,22%.
Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong tháng 9/2022 do Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất để chống lạm phát. Ngày 21/9/2022, Fed thông báo tăng lãi suất cơ bản thêm 0,75 điểm phần trăm, lên biên độ 3% - 3,25%. Đây là lần tăng lãi suất thứ 5 trong năm nay và là lần thứ 3 liên tiếp Fed tăng lãi suất 0,75 điểm phần trăm. Tính đến ngày 25/9/2022, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 109,7 điểm, tăng 2,8 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.530 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2022 tăng 0,53% so với tháng trước; tăng 2,87% so với tháng 12/2021 và tăng 3,45% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 0,7%.
c) Chỉ số giá sản xuất
Trong 9 tháng năm 2022, thị trường hàng hóa thế giới đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, các yếu tố rủi ro, bất định gia tăng cùng với chính sách thay đổi nhanh chóng của các nền kinh tế lớn. Chuỗi cung ứng sản xuất, tiêu dùng tiếp tục bị đứt gãy, nguy cơ mất an ninh năng lượng làm lạm phát tăng cao tại nhiều quốc gia. Trong nước, kinh tế phục hồi nhanh ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu tăng cao, cùng với tác động của giá nguyên, nhiên, vật liệu trên thị trường thế giới đã đẩy giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước tăng. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu quý III và 9 tháng năm 2022[39] đều tăng so với cùng kỳ năm 2021.
các năm 2018-2022 (%)
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2022 tăng 1,83% so với quý trước và tăng 6,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 2% và tăng 4,99%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,34% và tăng 5,83%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 1,15% và tăng 11,22%. Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,05% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,58%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,21%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,68%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý III/2022 tăng 0,65% so với quý trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 0,9% và tăng 24,18%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,39% và tăng 3,86%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,36% và tăng 5,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25% và tăng 1,62%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,71% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 23,29%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,05%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,93%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,81%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III/2022 tăng 1,28% so với quý trước và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2021. Cụ thể, chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 2,8% và tăng 12,44%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,22% và tăng 6,28%; thông tin và truyền thông tăng 0,08% và tăng 0,38%; giáo dục và đào tạo tăng 2,13% và tăng 2,82%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,06% và tăng 0,83%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 0,19% và tăng 0,48%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,34% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 8,01%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,06%; thông tin và truyền thông tăng 0,54%; giáo dục và đào tạo tăng 1,36%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,79%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 0,42%.
Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2022 tăng 0,91% so với quý trước và tăng 5,92% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,2% và tăng 10,85%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,96% và tăng 5,72%; dùng cho xây dựng tăng 0,36% và tăng 8,24%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 10,29%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,76% dùng cho xây dựng tăng 8,96%.
d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Hình 21. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa
và tỷ giá thương mại hàng hóa 9 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2018-2022 (%)
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 9,29%; nhóm nhiên liệu tăng 67,54%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 6,35%. Chỉ số giá xuất khẩu 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Dầu thô tăng 69,08%; xăng dầu tăng 73,21%; phân bón tăng 48,81%; sắt, thép tăng 15,2%.
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý III/2022 tăng 0,65% so với quý trước và tăng 10,15% so với cùng kỳ năm 2021. Cụ thể, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,76% và tăng 10,29%; nhóm nhiên liệu tăng 0,3% và tăng 37,49%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,67% và tăng 8,97%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 10,82%; nhóm nhiên liệu tăng 42,2%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 9,53%. Chỉ số giá nhập khẩu 9 tháng của một số mặt hàng: Xăng dầu tăng 47,65%; phân bón tăng 40,87%; sắt, thép tăng 32,3%; lúa mì tăng 28,67%.
Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT)[40] quý III/2022 tăng 0,53% so với quý trước và giảm 1,18% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó sắt, thép giảm 8,89% và giảm 14,17%; hàng rau quả tăng 2,29% và giảm 1,14%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,75% và giảm 3,09%; cao su giảm 1,63% và giảm 3,39%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 0,79% và tăng 7,22%; hàng thủy sản tăng 0,14% và tăng 5,67%; xăng dầu các loại tăng 7,91% và tăng 28,28%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, TOT giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sắt, thép giảm 12,93%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 5,68%; cao su giảm 3,63%; hàng rau quả giảm 2,63%; xăng dầu các loại tăng 17,31%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 6,15%; hàng thủy sản tăng 4,55%. TOT 9 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước do chỉ số giá xuất khẩu có mức tăng thấp hơn mức tăng của chỉ số giá nhập khẩu, phản ánh Việt Nam đang ở vị trí không thuận lợi khi giá hàng nhập khẩu có lợi thế hơn so với giá hàng xuất khẩu.
III. ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Tình hình lao động, việc làm quý III/2022 tiếp tục đà phục hồi, lực lượng lao động, số người đang làm việc và thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm giảm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý III/2022 ước tính là 51,9 triệu người, tăng 0,2 triệu người so với quý trước và tăng 2,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là là 51,6 triệu người, tăng 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2022 ước đạt 68,5%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
|
Quý II năm 2022 |
Quý III năm 2022 |
Ước tính 9 tháng năm 2022 |
Tăng so với cùng kỳ năm trước | ||
|
Quý III năm 2022 |
9 tháng năm 2022 | ||||
| Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên | 51,6 | 51,9 | 51,6 | 2,8 | 1,2 |
| Phân theo giới tính | |||||
| Nam | 27,4 | 27,7 | 27,5 | 1,5 | 0,7 |
| Nữ | 24,2 | 24,2 | 24,1 | 1,3 | 0,5 |
| Phân theo thành thị, nông thôn | |||||
| Thành thị | 19,2 | 19,3 | 19,2 | 1,3 | 0,9 |
| Nông thôn | 32,4 | 32,6 | 32,4 | 1,5 | 0,3 |
| Lực lượng lao động trong độ tuổi | 46,1 | 46,4 | 45,9 | 3,3 | 1,4 |
| Phân theo giới tính | |||||
| Nam | 25,3 | 25,5 | 25,3 | 1,6 | 0,7 |
| Nữ | 20,7 | 20,9 | 20,6 | 1,7 | 0,7 |
| Phân theo thành thị, nông thôn | |||||
| Thành thị | 17,6 | 17,8 | 17,6 | 1,4 | 0,9 |
| Nông thôn | 28,4 | 28,6 | 28,3 | 1,8 | 0,5 |
Hình 22. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm
của lực lượng lao động trong độ tuổi các quý năm 2020-2022 (%)
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2022 ước tính là 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,70 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,35%, trong đó khu vực thành thị là 2,88%; khu vực nông thôn là 2,02%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý III/2022 là 8,02%, tăng 0,39 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,87 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 9 tháng năm 2022 ước tính là 7,86%, trong đó khu vực thành thị là 9,65%; khu vực nông thôn là 6,91%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý III/2022 là 1,92%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,29%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,75%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,63%
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[41] quý I/2022 là 56,2%; quý II/2022 là 55,6%; quý III/2022 ước tính là 54,1%, trong đó khu vực thành thị là 45,4%; khu vực nông thôn là 61,4%. Tính chung 9 tháng năm 2022 tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 55,3%, trong đó khu vực thành thị là 47,0%; khu vực nông thôn là 62,2% (9 tháng năm 2021 tương ứng là 56,4%; 47,8%; 63,7%).
Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương quý III/2022 là 7,6 triệu đồng/tháng, tăng 126 nghìn đồng so với quý trước và tăng 1,6 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập của lao động nam là 8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7 triệu đồng/tháng. Tính chung 9 tháng năm 2022, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương ước tính là 7,5 triệu đồng/tháng, tăng 805 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Theo kết quả sơ bộ từ Khảo sát mức sống dân cư trong 9 tháng năm 2022, tình hình đời sống của hộ dân cư đã ngày càng cải thiện. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm 2021 là 83,2%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm là 16,8%. Trong các nguyên nhân làm giảm thu nhập của hộ gia đình có 74% hộ gia đình đánh giá do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; 19,5% hộ đánh giá do thành viên của hộ mất việc làm/tạm nghỉ việc và 16,0% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng lên. Bên cạnh đó, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng phần lớn đến đời sống dân cư khi 60,2% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19; 2,2% hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng và tương tự có 1,8% hộ chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh khác.
Trong 9 tháng năm nay, có 25,4% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 10,4%; từ họ hàng, người thân là 12,1%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 9,4%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 5,5% và từ các nguồn khác là gần 0,2%.
Công tác an sinh xã hội được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện. Theo báo cáo từ địa phương, giá trị quà tặng cho các đối tượng bảo trợ theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP là 2,1 nghìn tỷ đồng; trị giá tiền, quà thăm hỏi và các hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là gần 1,5 nghìn tỷ đồng; trị giá tiền và quà cho các đối tượng ưu đãi là người có công, thân nhân người có công với cách mạng là 3,4 nghìn tỷ đồng (riêng dịp 27/7 là gần 1,9 nghìn tỷ đồng); hỗ trợ đột biến, bất thường (thiên tai, bão lũ…) phát sinh tại địa phương hơn 4,38 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, có gần 29,7 triệu thẻ BHYT/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.
Bên cạnh đó, gói hỗ trợ do ảnh hưởng dịch Covid-19 của Chính phủ tiếp tục được thực hiện. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến ngày 22/9/2022 gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP đã giải ngân khoảng 3.539 tỷ đồng hỗ trợ cho hơn 5 triệu người lao động tại 120.295 doanh nghiệp. Cụ thể, hỗ trợ 3.055 tỷ đồng, cho 4,7 triệu người lao động đang làm việc trong 91.892 doanh nghiệp; hỗ trợ hơn 484 tỷ đồng cho 422.687 người lao động quay trở lại thị trường lao động tại 28.403 doanh nghiệp. Ngoài ra, để đảm bảo người dân không bị thiếu lương thực, ngày 29/8/2022 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1010/QĐ-TTg cấp gạo cứu đói hỗ trợ giáp hạt cho tỉnh Bình Định 1.290,7 tấn gạo và tỉnh Phú Yên 84 tấn gạo. Tính chung 9 tháng năm nay, Chính phủ cấp xuất tổng số hơn 23,3 nghìn tấn gạo hỗ trợ cho 471.343 hộ với 1.558,8 nghìn nhân khẩu. Trong đó: 13.959 tấn gạo hỗ trợ cho 291.723 hộ với 930.639 khẩu trong dịp tết; 8.989,8 tấn gạo cho 171.211 hộ với 599.318 khẩu dịp giáp hạt và 432 tấn gạo hỗ trợ hậu quả khắc phục thiên tai cho 8.409 hộ với 28.852 khẩu.
Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn, đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Đến ngày 26/8/2022, có 5.842/8.225 xã (chiếm 71%) đạt chuẩn nông thôn mới (NTM); có 837 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 105 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Bình quân cả nước đạt 17,1 tiêu chí/xã; 255 đơn vị cấp huyện thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành nhiệm vụ đạt chuẩn NTM (đạt 39,6% số huyện cả nước); 18 tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn NTM.
3. Giáo dục, đào tạo
Năm học 2022-2023, cả nước có 15.329 trường mầm non[42], bao gồm 12.071 trường công lập và 3.258 trường ngoài công lập; 25.741 trường phổ thông. Số giáo viên mầm non là 531,8 nghìn người; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 828,3 nghìn người, bao gồm: 391,1 nghìn giáo viên tiểu học; 292,2 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 145 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Cũng trong năm học này, cả nước có 5,1 triệu trẻ em đi học mầm non; 18,1 triệu học sinh phổ thông, bao gồm: 9,3 triệu học sinh tiểu học; 6 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,8 triệu học sinh trung học phổ thông.
Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2021-2022, cả nước có 2.243 điểm thi với 42.293 phòng thi và 1.002,4 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, trong đó số thí sinh tham dự thi là 989,9 nghìn thí sinh, bằng 98,7% so với số thí sinh đăng ký dự thi. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2021-2022 đạt 98,62%.
Về giáo dục nghề nghiệp, mục tiêu tuyển sinh đặt ra cho năm 2022 là 2.086 nghìn người, trong đó: trình độ cao đẳng và trung cấp là 530 nghìn người, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác 1.556 nghìn người; số học sinh, sinh viên tốt nghiệp là 1.824 nghìn người. Trong đó: trình độ cao đẳng và trung cấp là 346 nghìn người; sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác 1.478 nghìn người.
Tính chung 8 tháng năm 2022, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh được 1.462,3 nghìn người, đạt 70,1% so với kế hoạch năm 2022. Trong đó, các trường cao đẳng và trung cấp nghề tuyển sinh được 162,3 nghìn người, đạt 31%; sơ cấp nghề và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh 1.300 nghìn người, đạt 83,5%.
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/8-18/9/2022), cả nước có 33.674 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (16 trường hợp tử vong); 4.502 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 25 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút và 44 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung 9 tháng năm 2022, cả nước có 199.518 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (78 trường hợp tử vong); 48.839 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (03 trường hợp tử vong); 215 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (04 trường hợp tử vong); 10 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 205 trường hợp sốt phát ban nghi sởi.
Trên thế giới, dự báo dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán với sự xuất hiện của nhiều biến chủng mới[43]. Tại Việt Nam, nhiều địa phương đã ghi nhận các biến thể mới BA.4, BA.5, BA2.74, BA2.12.1 với khả năng lây lan nhanh. Kể từ ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/01/2020 đến ngày 27/9/2022, Việt Nam có 11.475,3 nghìn trường hợp mắc, trong đó 10.588,8 nghìn trường hợp đã được chữa khỏi và 43,1 nghìn trường hợp tử vong.
Từ ngày 08/3/2021 đến ngày 26/9/2022, tổng số liều vắc xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 259.983,3 nghìn liều, trong đó tiêm mũi 1 là 90.006,1 nghìn liều; tiêm mũi 2 là 84.293,9 nghìn liều; mũi bổ sung là 14.539,1 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 1 là 55.778,7 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 2 là 15.365,5 nghìn liều.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/9/2022 là 219.266 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 112.146 người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng 9/2022 xảy ra 03 vụ với 22 người bị ngộ độc. Tính chung 9 tháng năm 2022, cả nước xảy ra 39 vụ với 544 người bị ngộ độc (11 người tử vong).
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể luôn được Nhà nước quan tâm, đầu tư, góp phần bảo vệ, lưu giữ các giá trị văn hóa của quốc gia. Một số hoạt động phải kể đến như: Thẩm định, quyết định đưa 12 di sản văn hóa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; tổ chức Lễ kỷ niệm 5 năm Công ước năm 1972 tại Ninh Bình; tổ chức Lễ đón nhận Bằng ghi danh Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Tuyên Quang; lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh “Nghệ thuật Xòe Thái” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Yên Bái.
Tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới”. Các phong trào tập luyện thể dục thể thao quần chúng được đẩy mạnh và tổ chức rộng khắp các địa phương: Tổ chức 08 giải thể thao quần chúng cấp quốc gia và 02 lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ thể dục thể thao cho 322 cán bộ, cộng tác viên, hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở.
Về thể thao thành tích cao, tổ chức thành công 58 giải thể thao quốc gia và quốc tế. Tổng số huy chương đạt được là 151 huy chương, bao gồm: 44 huy chương vàng, 56 huy chương bạc và 51 huy chương đồng. Trong đó, đội tuyển Việt Nam tham dự một số giải thể thao quốc tế như: Tại Đại hội Thể thao thế giới tổ chức tại Mỹ, đội tuyển Việt Nam đã giành 1 huy chương vàng; tại giải vô địch Cử tạ thanh thiếu niên và vô địch trẻ châu Á tại U-dơ-bê-ki-xtan giành 19 huy chương vàng, 29 huy chương bạc, 17 huy chương đồng. Tại giải vô địch Thể hình châu Á tổ chức tại Man-đi-vơ giành 5 huy chương vàng, 8 huy chương bạc, 6 huy chương đồng; giải vô dịch Cầu mây thế giới tổ chức tại Thái Lan giành 1 huy chương vàng, 3 huy chương bạc và 1 huy chương đồng. Tại giải vô địch trẻ Kurash châu Á tổ chức tại Thái Lan giành 1 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 5 huy chương đồng; tại giải Thể dục Aerobic châu Á tổ chức tại Thái Lan giành 5 huy chương vàng, 7 huy chương bạc. Bên cạnh đó, tập trung chuẩn bị tốt nhất từ lực lượng chuyên môn cho đến các công tác phục vụ thi đấu để hướng về Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ IX năm 2022.
6. Tai nạn giao thông[44]
Trong tháng (từ 15/8 đến 14/9), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 825 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 560 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 265 vụ va chạm giao thông, làm 438 người chết, 307 người bị thương và 282 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Chín giảm 13,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 13,4% và số vụ va chạm giao thông giảm 13,1%); số người chết giảm 10,8%; số người bị thương giảm 17,5% và số người bị thương nhẹ giảm 14,3%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Chín tăng 69,1% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 71,8% và số vụ va chạm giao thông tăng 63,6%); số người chết tăng 72,4%; số người bị thương tăng 102% và số người bị thương nhẹ tăng 89,3%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 8.313 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 5.785 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.528 vụ va chạm giao thông, làm 4.714 người chết, 2.963 người bị thương và 2.583 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng năm nay tăng 2,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 10,5%; số vụ va chạm giao thông giảm 12,8%); số người chết tăng 13,7%; số người bị thương tăng 9,9% và số người bị thương nhẹ giảm 11,9%. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 9 vụ va chạm giao thông, làm 17 người chết, 11 người bị thương và 9 người bị thương nhẹ.
7. Thiệt hại do thiên tai[45]
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Chín chủ yếu là mưa lớn, sạt lở đất làm 16 người chết và mất tích; 6 người bị thương; 29,1 nghìn ha lúa và 7,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 4,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 770,8 tỷ đồng, tăng 74,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tính chung 9 tháng năm nay, thiên tai làm 134 người chết và mất tích; 86 người bị thương; 202,1 nghìn ha lúa và 44,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; hơn 253,2 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; gần 19,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong 9 tháng năm 2022 ước tính gần 6.617 tỷ đồng, gấp 4,9 lần cùng kỳ năm trước.
8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ
Trong tháng 9/2022, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.936 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.711 vụ với tổng số tiền phạt 22,9 tỷ đồng, tăng 10,2% so với tháng trước và gấp gần 2,2 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay đã phát hiện 16.652 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 14.515 vụ với tổng số tiền phạt là 195,5 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng[46], cả nước xảy ra 138 vụ cháy, nổ, làm 39 người chết và 20 người bị thương, thiệt hại ước tính 14,9 tỷ đồng, giảm 49,8% so với tháng trước và tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.285 vụ cháy, nổ, làm 104 người chết và 85 người bị thương, thiệt hại ước tính 536,5 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước.
Khái quát lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, không thuận lợi, nhưng tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2022 của nước ta đã đạt được kết quả tích cực ở hầu hết các lĩnh vực. Đó là do sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước. Nền kinh tế đạt mức tăng 8,83%, đây là mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các nước trong khu vực và trên thế giới; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng và xuất khẩu tăng cao. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng khá cao khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt mức cao, an sinh xã hội được quan tâm đảm bảo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, bước sang quý IV, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình chính trị thế giới phức tạp, khó lường, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, giá hàng hóa thiết yếu tăng cao, lạm phát cao trên toàn cầu. Dịch Covid-19 tuy đã cơ bản được khống chế ở Việt Nam nhưng với các biến thể mới có nguy cơ gia tăng trên thế giới. Do đó các ngành, các cấp tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tập trung thực hiện “4 ổn định, 3 tăng cường, 2 đẩy mạnh, 1 tiết giảm và 1 kiên quyết không”[47], nỗ lực phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm 2022, tạo đà cho năm 2023. Đồng thời, tập trung một số nội dung trọng tâm sau đây:
Một là, tiếp tục thực hiện nhất quán phương châm “Sống chung an toàn với dịch Covid-19”; đẩy mạnh triển khai các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 755/CĐ-TTg ngày 25/8/2022, nhất là đẩy mạnh tiêm vắc xin. Chủ động ứng phó kịp thời với các biến chủng mới của dịch Covid-19, vi rút adeno và các loại dịch bệnh theo mùa như sốt xuất huyết, chân tay miệng, các dịch bệnh trên thế giới có thể xâm nhập vào Việt Nam, như bệnh đậu mùa khỉ... Bảo đảm nguồn cung về thuốc, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế phục vụ khám, chữa bệnh và phòng chống dịch. Theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống của người dân.
Hai là, thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Nâng cao hiệu quả kết nối cung cầu lao động - việc làm, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từ đó cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tăng năng suất lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.
Ba là, quyết liệt triển khai nhanh, hiệu quả nhiệm vụ, dự án đầu tư thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội năm 2022-2023, tập trung vào các lĩnh vực cấp bách và có khả năng hấp thụ tốt, dự án có tính liên vùng, chương trình hỗ trợ, trợ cấp cho người lao động; khơi thông các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai, thủ tục hành chính, thể chế để đẩy nhanh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm thực hiện, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế; đẩy nhanh việc hoàn thiện và triển khai quy hoạch, tăng cường liên kết vùng để tạo sự đồng bộ, không gian mới và động lực mới cho sự phát triển của các vùng kinh tế - xã hội cũng như các địa phương trong vùng.
Bốn là, chủ động điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa, vừa ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát vừa hỗ trợ doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Liên tục cập nhật kịch bản dự báo về tăng trưởng, lạm phát để chủ động điều hành ứng phó với các tình huống phát sinh. Theo dõi chặt chẽ diễn biến giá các mặt hàng thiết yếu nhất là mặt hàng xăng dầu, xây dựng các phương án điều tiết nguồn cung, hạn chế việc tăng giá đột biến nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến lạm phát đến đời sống người dân.
Năm là, đẩy mạnh sản xuất trong nước, nhất là các mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào để hạn chế nhập khẩu và chủ động nguồn cung. Triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến xuất khẩu, kết nối cung cầu, tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thủy sản; có chính sách thắt chặt các quy định về truy xuất nguồn gốc của các mặt hàng nhập khẩu, đa dạng hóa thị trường và hàng hóa xuất khẩu.
Tập trung triển khai sản xuất nông nghiệp bảo đảm trong khung thời vụ; thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; tăng cường công tác quản lý khai thác thủy sản, đảm bảo an toàn cho ngư dân, tàu cá hoạt động trên biển.
Sáu là, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các ngành, các cấp; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; thực hiện nghiêm quy chế làm việc, kỷ luật phát ngôn; công khai, minh bạch, tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng. Ngăn chặn, triệt phá các thông tin xấu, sai sự thật gây hoang mang dư luận; tăng cường thông tin, tuyên truyền các hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam./.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ