Dấu ấn thống kê

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng Mười một thấp nhất trong 5 tháng trở lại đây

Theo báo cáo của S&P Global, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 11/2023 đã giảm xuống còn 47,3 điểm, thấp nhất trong vòng 5 tháng trở lại đây. Kết quả chỉ số cho thấy các điều kiện kinh doanh trong ngành sản xuất đã giảm mạnh so với tháng trước.
 
Báo cáo cho biết, có 3 điểm nhấn nổi bật là sản lượng giảm nhanh hơn khi số lượng đơn đặt hàng mới giảm; việc làm và hoạt động mua hàng giảm trở lại; chi phí đầu vào tăng mạnh nhất kể từ tháng 2/2023.

Nhu cầu yếu khiến số lượng đơn đặt hàng mới của các nhà sản xuất Việt Nam giảm trở lại trong tháng Mười một, dẫn đến sản lượng giảm ở mức đáng kể hơn. Các công ty cũng cắt giảm việc làm và hoạt động mua hàng, đồng thời tỏ ra ngần ngại trong việc tích trữ hàng tồn kho. Kết quả, tồn kho cả hàng mua và hàng thành phẩm đều giảm tháng thứ 3 liên tiếp. Hàng tồn kho trước sản xuất giảm mạnh, với mức giảm lớn nhất kể từ tháng Sáu. Trong khi đó, hàng tồn kho sau sản xuất chỉ giảm nhẹ.
 
Ảnh minh họa

Ở một mức độ nào đó, số lượng đơn đặt hàng mới giảm thể hiện phản ứng của khách hàng với tình trạng tăng giá. Tuy nhiên, các công ty đã tăng giá bán hàng tháng thứ tư liên tiếp để đối phó với tình trạng tăng chi phí đầu vào khi tốc độ lạm phát đạt mức cao của 9 tháng.
 

Các nhà sản xuất có số lượng đơn đặt hàng mới giảm trở lại trong tháng Mười một, từ đó kết thúc thời kỳ tăng kéo dài ba tháng. Tốc độ giảm mạnh nhất là từ tháng Năm. Nhu cầu khách hàng giảm được cho là nguyên nhân dẫn đến giảm số lượng đơn đặt hàng mới. Tình trạng nhu cầu yếu kém cũng được ghi nhận với khách hàng quốc tế, khi số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm lần đầu tiên trong bốn tháng. Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết khách hàng không muốn trả giá cao hơn cho sản phẩm.

Trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới giảm và các điều kiện kinh tế khó khăn, các công ty tiếp tục giảm sản lượng. Đến nay, sản lượng đã giảm trong suốt ba tháng qua. Tốc độ giảm đã nhanh hơn nhiều và là tốc độ giảm đáng kể nhất kể từ tháng Năm.

Áp lực chi phí tiếp tục tăng vào giữa quý IV khi tốc độ lạm phát đạt mức cao của chín tháng. Tình trạng đồng tiền yếu được cho là nguyên nhân dẫn đến giá các mặt hàng nhập khẩu tăng, trong khi nhiên liệu, dầu và đường nằm trong số những mặt hàng đầu vào cụ thể có mức giá tăng trong tháng. Trước tình hình đó, các nhà sản xuất đã tăng giá bán hàng tháng thứ tư liên tiếp.

Số lượng đơn đặt hàng mới giảm, yêu cầu sản lượng giảm và lượng công việc tồn đọng tiếp tục giảm khiến các nhà sản xuất giảm hoạt động mua hàng và việc làm trong tháng Mười một.
 

Số lượng việc làm giảm nhẹ sau khi tăng nhẹ trong tháng Mười, và lực lượng lao động đến nay đã giảm 8 trong 9 tháng vừa qua. Trong khi đó, hoạt động mua hàng giảm nhẹ đã kết thúc thời kỳ tăng mua hàng hóa đầu vào kéo dài ba tháng.

Nhu cầu hàng hóa đầu vào giảm và lượng hàng tồn kho đang được tích trữ đủ giúp các nhà cung cấp có thể tiếp tục đẩy nhanh việc giao hàng, từ đó kéo dài thời kỳ cải thiện hiệu suất người bán hàng hiện nay thành 11 tháng. Tuy nhiên, thời gian giao hàng chỉ được rút ngắn một chút, và mức độ rút ngắn là thấp nhất trong thời kỳ này.

Niềm tin kinh doanh đã giảm tháng thứ hai liên tiếp và đạt mức thấp hơn trung bình của lịch sử chỉ số. Các công ty bày tỏ lo ngại về mức độ dễ bị tổn thương của các điều kiện kinh tế và tình trạng nhu cầu yếu trên thị trường.

Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market cho rằng, nhu cầu yếu ở cả trong và ngoài nước đã khiến ngành sản xuất Việt Nam có sự suy giảm trong tháng Mười một. Với số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các công ty đã giảm sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng, đồng thời cũng hạn chế lượng hàng tồn kho.

Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm thể hiện phản ứng của khách hàng với tình trạng giá cả tăng. Trong bối cảnh chi phí đầu vào của các công ty tăng với mức độ mạnh nhất kể từ tháng Hai, các nhà sản xuất có thể gặp khó khăn trong việc cạnh tranh giá cả trong những tháng tới. Do đó, ngành sản xuất sẵn sàng bước vào năm 2024 với tình trạng khá ảm đạm, hy vọng nhu cầu sẽ sớm tăng trở lại./.
 
PV

 

 

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965