Dấu ấn thống kê

Đến năm 2025, hàng thủ công mỹ nghệ phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD

Những năm gần đây, hàng thủ công mỹ nghệ luôn nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam. Đặc biệt, việc Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) như: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Ðối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)… đã và đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu và có cơ hội tham gia vào các thị trường tiềm năng. 

Đến năm 2025, hàng thủ công mỹ nghệ phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD

Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 1.864 làng nghề, làng nghề truyền thống và 115 nghề truyền thống đã được công nhận. Hiện, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã được xuất khẩu tới 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 10% nhu cầu của thị trường toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn 2015-2019 tăng trung bình 9,5%/năm, từ 1,62 tỉ USD (2015) lên đến 2,23 tỉ USD (2019) và phấn đấu đạt 4 tỉ USD vào năm 2025. Các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam ngày càng đa dang. Nhiều nhóm sản phẩm được đánh giá cao trên thị trường như: Hàng mây tre đan, các sản phẩm sơn mài, các sản phẩm thủ công từ lụa...

Khác với nhiều ngành hàng chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19, các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ và các ngành nghề thủ công liên quan lại tìm thấy cơ hội do dịch Covid -19 các hoạt động trong nhà của người dân ngày một tăng lên, trong đó nhu cầu trang trí nhà ở và các vật dụng trong gia đình được nhiều gia đình quan tâm. Còn trong xu hướng hiện nay, khi người tiêu dùng hướng tới sử dụng các vật liệu tự nhiên đang góp phần thúc đẩy nhu cầu sử dụng các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ. Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, năm 2024, thị trường sản phẩm thủ công mỹ nghệ toàn cầu hướng đến con số 1.107 tỷ USD và dự báo sẽ đạt 2.394 tỷ USD vào năm 2032. Điều này cho thấy, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn nhiều tiềm năng và là cơ hội cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, gia tăng giá trị, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm.

Tuy nhiên, các làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam hiện tại vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công mỹ nghệ chưa có chiến lược marketing rõ ràng, nhiều cơ sở sản xuất vẫn dựa vào phương thức truyền thống và chưa áp dụng các công cụ marketing hiện đại. Thiếu thông tin thị trường, do đó các nhà sản xuất thường không nắm rõ nhu cầu và xu hướng của thị trường quốc tế. Xây dựng thương hiệu còn khó khăn, do đó nhiều sản phẩm chưa được định danh thương hiệu, dẫn đến sự cạnh tranh không hiệu quả.

Trong Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/7/2022 đã đặt mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 30% số làng nghề có sản phẩm được bảo hộ sở hữu thương hiệu; Nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề đạt khoảng 4 tỷ USD; 100% cơ sở, hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường. Đến năm 2030, có ít nhất 50% số làng nghề có sản phẩm được bảo hộ sở hữu thương hiệu; Nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề đạt khoảng 6 tỷ USD.
 Đến năm 2025, hàng thủ công mỹ nghệ phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD 1

Để gia tăng xuất khẩu và vị thế trên thị trường thế giới, trong thời gian tới, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp như: Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong thiết kế mẫu mã và sản xuất, xúc tiến thương mại, xây dựng mạng lưới tiêu thụ, xuất khẩu và nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của các hiệp hội; Tập trung phát triển các làng nghề sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế, hàm lượng văn hóa cao, có tiềm năng xuất khẩu lớn; Cung cấp thông tin thường xuyên về thị trường, những quy định về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng để cơ sở sản xuất làng nghề có định hướng sản xuất, xuất khẩu phù hợp; Tiếp tục tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng dạy học, thiết kế mẫu mã sản phẩm và xu hướng thị trường; khuyến khích, hỗ trợ nghệ nhân, thợ giỏi tham gia đào tạo, truyền nghề cho người lao động; Các làng nghề cần đầu tư vào xây dựng thương hiệu cho sản phẩm.  Ứng dụng công nghệ số. Sử dụng các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội để quảng bá sản phẩm và tiếp cận khách hàng toàn cầu./.

PV

 


Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965