Dấu ấn thống kê

Kết quả thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao 3 năm 2020-2022

Chỉ số phát triển Kinh tế - Xã hội (tiếng Anh: Sociol Economic Development Index - Viết tắt là SEDI) của Việt Nam (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển, ký hiệu là Sn) là chỉ số tổng hợp cho phép áp dụng để đo lường kết quả thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao hằng năm do Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta đề ra. SEDI được tính trên cơ sở kết quả thực hiện 10 chỉ tiêu sau:

- Về kinh tế gồm 4 chỉ tiêu:

(1) Thu nhập bình quân đầu người tương đương với ngưỡng nước phát triển, thu nhập cao do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố áp dụng cho năm tính toán;

(2) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 80%;

(3) Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 100%;

(4) Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành phi nông lâm thủy sản (LĐPNN) đạt 90%.

- Về xã hội gồm 4 chỉ tiêu:

(5) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bắng cấp, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên đạt 50%;

(6) Tuổi thọ trung bình của dân số tính từ lúc sinh đạt 80 năm;

(7) Tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 2,5%;

(8) Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (GINI) đạt 0,3.

- Về môi trường gồm 2 chỉ tiêu:

(9) Tỷ lệ diện tích rừng hiện có so với tổng diện tích đất lâm nghiệp (TLRHC) đạt 100%;

(10) Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 100%.

Sau đây là kết quả thực hiện 10 chỉ tiêu của 3 năm 2020, 2021 và 2022 :
 
Bảng 1.  Kết quả thực hiện các chỉ tiêu thành phần 3 năm 2020 – 2022
Tiêu chí Đơn vị tính Chuẩn   cần đạt 2020 2021 Sơ bộ 2022
A B C 1 2 3
1. Thu nhập bình quân          
- Năm 2020 Triệu đồng 185,3 51,0  x x
- Năm 2021 Triệu đồng 177,6 x 50,5 x
- Năm 2022 Triệu đồng 190,3 x x 56,1
2. Tỷ lệ đô thị hóa % 80 36,82 37,12 37,55
3. Tỷ lệ xã đạt xã nông thôn mới % 100 65,23 68,20 82,45
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp % 90 71,46 71,02 72,44
5. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo % 50 21,1 26,10 26,44
6. Tuổi thọ trung bình Năm 80 73,7 73,6 73,64
7. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều % ≤ 2,5 4,8 4,40 4,30
8. Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Lần 0,3 0,373 0,374 0,375
9. Tỷ lệ diện tích rừng hiện có % 100 95,3 94,62 98,75
10. Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh % 100 97,4 98,10 98,00
 
Nguồn: Trang thông tin điện tử www.gso.gov.vn; Kết quả thống kê đất đai năm 2020, 2021, 2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dữ liệu xã nông thôn mới của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương và tính toán của tác giả.

Từ kết quả đạt được tại Bảng 1 trên đây, áp dụng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển KT – XH của Việt Nam tính được các chỉ số riêng biệt và chỉ số phát triển chung của cả nước 3 năm 2020, 2021 và sơ bộ năm 2022 như sau:
 
Bảng 2.  Chỉ số phát triển của cả nước 3 năm 2020 - 2022
                                        Đơn vị tính: Điểm
Chỉ số 2020 2021 Sơ bộ 2022
A 1 2 3
Chỉ số phát triển chung (Sn)      
S20 61,78 x x
S21 x 63,25 x
S22 x x 66,24
1. Thu nhập bình quân đầu người 5,0 5,17 5,36
2. Tỷ lệ đô thị hóa 7,53 7,59 7,68
3. Tỷ lệ xã đạt xã nông thôn mới 8,3 8,99 9,00
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 8,66 8,61 10,25
5. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 7,01 7,59 7,69
6. Tuổi thọ trung bình 6,7 6,69 6,69
7. Tỷ lệ nghèo đa chiều 5,19 5,21 5,22
8. Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (Gini) 8,14 8,13 8,99
9. Tỷ lệ diện tích rừng hiện có 3,46 3,48 1,80
10. Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh 1,77 1,78 3,57
 
Theo Bảng 2, đến năm 2022, chỉ số phát triển của nước ta đạt 66,24/100 điểm, tăng 2,99 điểm so với năm 2021, tăng 4,46 điểm so với năm 2020. Tuy nhiên vẫn còn thấp hơn ngưỡng của nước phát triển, thu nhập cao 33,76 điểm.

Đến năm 2022, cả nước có 5/10 chỉ tiêu đạt trên 90% ngưỡng nước phát triển, thu nhập cao (Tỷ lệ nghèo đa chiều, Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, Tỷ lệ rừng hiện có; và Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh), có 2/10 chỉ tiêu đạt trên 80% ngưỡng của nước phát triển, thu nhập cao (Tỷ lệ xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp), còn có 2/10 chỉ tiêu đạt dưới 50% ngưỡng của nước phát triển, thu nhập cao (Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt 29,47%, Tỷ lệ đô thị hóa mới chỉ đạt 46,94%).

Như vậy để trở thành nước phát triển, thu nhập cao trong những năm tới nước ta cần tiếp tục ưu tiên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nguồn lực nhằm tạo nhiều việc làm để nâng cao thu nhập bình quân đầu người, đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa và nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo./.
               
TS. Nguyễn Huy Lương

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965