Dấu ấn thống kê

Khuyến công Quốc gia trong nền kinh tế hội nhập

Kết quả
 
Những năm qua, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong khuyến công từng bước được hoàn thiện. Vai trò cơ quan quản lý Nhà nước về công thương địa phương được nâng cao, tạo sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp (DN), cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT). Tổ chức khuyến công địa phương và hệ thống khuyến công được kết nối thống nhất từ Trung ương đến địa phương và hoạt động ngày càng hiệu quả. Các trung tâm khuyến công được quan tâm đầu tư… Nhờ đó, Chương trình khuyến công quốc gia (KCQG) đã phát huy hiệu quả, tạo dấu ấn lớn trong phát triển CNNT, đóng góp vào tăng trưởng sản xuất toàn ngành công nghiệp.

Khuyến công Quốc gia trong nền kinh tế hội nhập
 
Trong 5 năm (2014-2018), tổng kinh phí khuyến công là 1,186 nghìn tỷ đồng, trong đó, kinh phí KCQG là hơn 481,4 tỷ đồng, chiếm 40,5%; kinh phí khuyến công địa phương là 704,7 tỷ đồng, chiếm 59,5%. Trung bình cứ 1 đồng vốn khuyến công thu hút được 4,78 đồng vốn đầu tư từ cơ sở CNNT. Điều này cho thấy, chương trình KCQG trong giai đoạn 2014-2018 đã làm tốt vai trò “dẫn vốn”. Từ nguồn vốn chương trình đã góp sức đáng kể vào phát triển CNNT cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới.
 
Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học - kỹ thuật được nhiều địa phương quan tâm tổ chức thực hiện và thu hút lượng vốn đối ứng lớn. Trong 5 năm, chương trình KCQG đã hỗ trợ xây dựng 210 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, công nghệ mới; hỗ trợ 630 cơ sở chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp
 
- tiểu thủ công nghiệp. Qua đánh giá mức độ khả thi, tính hiệu quả các đề án tại 10 địa phương, thuộc 3 khu vực trên cả nước cho thấy, các mô hình đều là những hình mẫu cho các giải pháp sản xuất khu vực nông thôn, giúp các doanh nghiệp, cơ sở CNNT ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều mô hình mang tính đại diện cho cả vùng và mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, môi trường. Ngoài ra, thông qua xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã giúp CNNT tạo ra nhiều sản phẩm tiêu chuẩn, giải quyết việc làm và tăng giá trị hàng hóa.
 
Trong 5 năm, chương trình KCQG cũng đã đào tạo truyền nghề, nâng cao tay nghề cho hơn 18 nghìn lao động nông thôn. Các đề án đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động của các cơ sở CNNT. Sau đào tạo nghề hầu hết lao động có việc làm với tỷ lệ đạt trên 90%. Hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý cho 10,2 nghìn học viên tại các cơ sở CNNT thông qua các lớp đào tạo nâng cao năng lực cán bộ quản lý, điều hành; đào tạo nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và áp dụng các công cụ nâng cao năng suất chất lượng.
 
Để nâng cao giá trị cạnh tranh của sản phẩm CNNT trên thị trường, trong 5 năm, Chương trình KCQG đã hỗ trợ 48 cơ sở CNNT xây dựng, đăng ký thương hiệu sản phẩm; tôn vinh 610 sản phẩm cấp khu vực và 202 sản phẩm cấp quốc gia có chất lượng, tiềm năng phát triển sản xuất, mở rộng thị trường; hỗ trợ 4,4 nghìn lượt cơ sở CNNT tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Chương trình hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết và hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp cho 22 địa phương. Tổng số có 45 cụm công nghiệp được hỗ trợ, trong đó có 26 đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết, 19 đề án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng
 
Ngoài ra, hàng năm, để hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động khuyến công, Chương trình đã tổ chức 3 Hội nghị khuyến công vùng tại 3 khu vực Bắc - Trung - Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công, trao đổi kinh nghiệm trong triển khai thực hiện các đề án khuyến công đảm bảo tính thống nhất chặt chẽ và hiệu quả; tăng cường tính liên kết vùng, liên kết giữa các cơ sở CNNT trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế trong triển khai thực hiện chương trình KCQG trong thời gian qua. Hiện, các cơ sở CNNT chủ yếu vẫn là hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động manh mún, tiềm lực tài chính hạn chế nên rất khó đổi mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuất; hầu hết công nghệ thiết bị lạc hậu, thị trường tiêu thụ chưa chủ động được, nhất là xuất khẩu; số lượng cơ sở CNNT nhiều nhưng nguồn kinh phí hỗ trợ ít. Bên cạnh đó, các văn bản chính sách trong lĩnh vực khuyến công mặc dù đã được bổ sung, sửa đổi nhưng chưa theo kịp với yêu cầu thực tế; số lượng đề án có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng chưa nhiều; số cơ sở CNNT tham gia các hoạt động khuyến công chưa tương xứng với tình hình phát triển CNNT ở các địa phương.
 
Giải pháp
 
Xây dựng định hướng cho chương trình KCQG trong nền kinh tế hội nhập thời gian tới cần tập trung vào các giải pháp sau:
 
Một là, đẩy mạnh việc rà soát, xây dựng, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các văn bản về hoạt động khuyến công từ Trung ương đến địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm phục vụ công tác thống kê số liệu và theo dõi quản lý chương trình, kế hoạch, đề án khuyến công; hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động khuyến công theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, hỗ trợ các ngành nghề, sản phẩm tiêu biểu, chủ lực phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng địa phương đồng bộ với các chính sách khác như: Chính sách đất đai, ưu đãi đầu tư, tín dụng, khoa học và công nghệ.
 
Hai là, cần nhìn nhận và đánh giá lại về KCQG trong tổng thể về chính sách phát triển quốc gia nhất là chiến lược hội nhập quốc tế. Theo đó, hoạt động khuyến công phải bám sát quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn quốc, của vùng và của từng địa phương mang tầm nhìn xa hơn nữa.
 
Ba là, tiếp tục hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
 
Bốn là, tiếp tục nghiên cứu hình thành các vùng nguyên liệu tập trung tạo điều kiện phát triển sản xuất bền vững; hỗ trợ các cơ sở sản xuất tập trung để tiêu thụ sản phẩm nhỏ lẻ trong dân; tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và giữa các vùng, qua đó trao đổi kinh nghiệm, phát huy thế mạnh của mỗi địa phương; hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các cơ sở có sản phẩm CNNT tiêu biểu và các ngành nghề chủ lực phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương, tạo nên chuỗi giá trị trong một số ngành, lĩnh vực là thế mạnh điển hình của địa phương.
 
Năm là, ngoài nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho hoạt động khuyến công, cần kết hợp lồng ghép với các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội có liên quan và một số chương trình khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển CNNT.
 
Sáu là, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác khuyến công thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn về nghiệp vụ. Bên cạnh đó, hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề gắn với đặc thù của từng ngành nghề, địa phương để tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống./.
 
Minh Đạt
 
 

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965