Đặt vấn đề
Thông thường khi nghiên cứu quan hệ của NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế (viết gọn là NSLĐ tổng hợp chung) với NSLĐ của các khu vực kinh tế (KV KT): KV Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản - NL,TS; KV Công nghiệp, Xây dụng - CNXD và KV Dịch vụ - DV thì NSLĐ tổng hợp chung như là NSLĐ bình quân của các khu vực và biến động của NSLĐ tổng hợp chung chịu tác động của hai nhân tố: Tăng giảm NSLĐ nội bộ các khu vực (biến động của tiêu thức bình quân hóa) và thay đổi cơ cấu lao động (LĐ) giữa các khu vực (thay đổi kết cấu tổng thể). Song trong điều kiện số liệu hiện nay, NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế được tính theo GDP hoặc GRDP có cả thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm (từ đây gọi là thuế sản phẩm), còn NSLĐ của các KV KT lại tính theo GDP hoặc GRDP không có thuế sản phẩm, do đó biến động của NSLĐ tổng hợp chung còn chịu tác động thêm của cả thay đổi tỷ trọng thuế so với GDP hoặc GRDP.
Dưới đây sẽ tiến hành tính toán và phân tích biến động NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2023, chỉ rõ mức độ tác động của 3 nhân tố: Thay đổi tỷ trọng thuế, tăng giảm NSLĐ nội bộ các KV và thay đổi cơ cấu LĐ giữa các KV đến biến động NSLĐ tổng hợp chung.
Lựa chọn công thức phục vụ cho yêu cầu phân tích biến động NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế
Lấy tỷ lệ tăng lên của NSLĐ tổng hợp chung do ảnh hưởng của từng nhân tố chia cho tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung rồi nhân với 100 sẽ được tỷ trọng (di) đóng góp tương ứng của từng nhân tố (di tính bằng %) vào tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung.
Tính toán các chỉ tiêu NSLĐ và chỉ số phát triển NSLĐ tương ứng qua các năm giai đoạn 2021 - 2023
Bảng 01. Tính toán NSLĐ tổng hợp chung và NSLĐ các KVKT qua các năm
Ghi chú: Khi nghiên cứu biến động theo thời gian thì NSLĐ được tính theo giá so sánh để loại trừ ảnh hưởng của biến động giá cả
Tiếp tục từ số liệu về GDP, NSLĐ và số lao động của các khu vực kinh tế ở Bảng 01, ta tính toán NSLĐ bình quân giữa các KV KT:
Khi có được NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế và NSLĐ bình quân giữa các KV theo yêu cầu nghiên cứu (tính được ở trên), lập bảng tính các chỉ số phát triển NSLĐ qua các năm như sau:
Bảng 02. Tính các chỉ số phát triển NSLĐ qua các năm
Ghi chú: Chỉ số bình quân năm giai đoạn 2021 - 2023 (ở cột 6, 7 và 8) là số bình quân tích của các chỉ số phát triển qua các năm.
Tính toán và phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung
*Năm 2021:
- Tăng NSLĐ tổng hợp chung:
* Bằng cách tương tự, ta tính được tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung và tỷ lệ tăng NSLĐ tổng hợp chung do tác động của các nhân tố cũng như tỷ trọng đóng góp tương ứng ở các năm còn lại và bình quân năm giai đoạn 2021 - 2023. Kết quả tính toán được hệ thống ở Bảng 03.
Bảng 03. Tỷ lệ tăng lên và tỷ trọng đóng góp của các nhân tố vào tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung qua các năm
- Tỷ trọng thuế sản phẩm so với GDP của 3 năm liên tiếp giảm đi và đã làm giảm tốc độ tăng NSLĐ tổng hợp chung từ - 0,04% đến - 0,22%, và tỷ trọng đóng góp làm giảm từ - 0,33% đến - 4,66%. Bình quân năm giai đoạn 2021 - 2023 thay đổi tỷ trọng thuế làm giảm NSLĐ tổng hợp chung là - 0,15%, tương ứng với tỷ trọng đóng góp làm giảm là - 2,21%.
- NSLĐ nội bộ các khu vực kinh tế ở cả 3 năm đều liên tục tăng lên và đóng góp làm tăng NSLĐ tổng hợp chung ở mức khá và luôn ở vị trí thứ nhất so với hai nhân tố còn lại. Nếu xét riêng các năm thì năm 2021 tăng NSLĐ nội bộ các KV làm tăng NSLĐ tổng hợp chung 8,35%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 69,41%; năm 2022 tăng NSLĐ nội bộ các khu vực làm tăng 3,86%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 79,42% và năm 2023 tăng NSLĐ nội bộ các khu vực làm tăng 3,35%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 91,78%. Bình quân năm giai đoạn 2021 - 2023, tăng NSLĐ nội bộ các khu vực làm tăng NSLĐ tổng hợp chung 5,14%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 75,81%.
- Thay đổi hay còn gọi là chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế trong cả ba năm đều chung một xu hướng là chuyển dần lao động từ KV NLTS có NSLĐ thấp đến làm việc ở các KV CNXD và KV DV có NSLĐ cao hơn và đều làm tăng NSLĐ tổng hợp chung. Tuy nhiên mức làm tăng này có xu thế giảm dần, cụ thể: Năm 2021 chuyển dịch cơ cấu LĐ đã làm tăng NSLĐ tổng hợp chung 3,72%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 30,92%; năm 2022 chuyển dịch cơ cấu LĐ đã làm tăng 1,22%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 25,10% và năm 2023 chuyển dịch cơ cấu lao động đã làm tăng 0,47%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 12,88%. Bình quân 3 năm 2021 - 2023, chuyển dịch cơ cấu lao động giữa ba KV KT đã làm tăng NSLĐ tổng hợp chung là 1,79%, tương ứng với tỷ phần đóng góp làm tăng là 26,40%.
Để không ngừng nâng cao NSLĐ tổng hợp chung toàn nền kinh tế cần phải tiếp tục đổi mới sản xuất, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cải tiến quản lý, đẩy mạnh công tác đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...nhằm hướng đến việc tăng thêm về số lượng và đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng đến đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp chế biến chế tạo với phương châm đảm nhận được ngày càng nhiều công đoạn sản xuất có tỷ lệ giá trị tăng thêm cao (nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tỷ lệ giá trị tăng thêm trong sản phẩm là cơ sở vững chắc để nâng cao NSLĐ) để nâng cao NSLĐ nội bộ các khu vực. Mặt khác, tiếp tục đẩy mạnh thay đổi cơ cấu kinh tế, bằng cách tiếp tục chuyển bớt lao động từ những ngành, những khu vực có NSLĐ thấp sang làm việc ở những ngành, những khu vực có NSLĐ cao để có NSLĐ tổng hợp chung cao hơn./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Niên giám Thống kê năm 2022 của TCTK, NXB Thống kê năm 2023.
- Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội quý IV và năm 2023 của TCTK (sơ bộ)
- Lý thuyết Thống kê do PGS, TS Trần Thị Kim Thu chủ biên, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012;
- Phân tích thống kê - Lý thuyết và ứng dụng do PGS, TS. Tăng Văn Khiên làm chủ biên, NXB Thống kê, Hà Nội năm 2015;
- Bài báo “Thiết lập hệ thống chỉ số phân tích biến động năng suất lao động chung toàn nền kinh tế” đăng trên Tạp chí Con số và Kiện kỳ II - 4/2019
Trường Đại học Lao động - Xã hội