Khẳng định vai trò của ngành kinh tế trọng điểm quốc gia
Công nghiệp CNTT được xác định là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số
Chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam từ đất nước đi lên sau chiến tranh, gỡ bỏ chế độ bao cấp, định hướng phát triển nền kinh tế thị trường đã nhanh chóng trở thành quốc gia mạnh về CNTT. Với số lượng người dùng internet thuộc top cao nhất trên thế giới, Việt Nam triển khai mạnh mẽ ứng dụng CNTT trong các hoạt động đời sống và ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Các hoạt động của Chính phủ, người dân và doanh nghiệp đều sử dụng mạng internet trên các nền tảng kết nối khác nhau; nhiều địa phương cũng ứng dụng công nghệ số vào hoạt động quản lý kinh tế xã hội.
Đến nay, khung pháp lý tổng thể về công nghiệp CNTT để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, phù hợp với nhu cầu thực tiễn và nhiệm vụ phát triển được Việt Nam tích cực nghiên cứu xây dựng, hình thành và dần hoàn thiện. Bước đầu là Luật CNTT năm 2006 với 4 thành phần chính, gồm: Nghiên cứu - phát triển (R&D), phát triển nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp CNTT, phát triển dịch vụ CNTT. Trong đó, các cấu phần của ngành công nghiệp CNTT được quy định tại Luật bao gồm các loại hình: Công nghiệp phần cứng, điện tử; công nghiệp phần mềm; công nghiệp nội dung số; khu CNTT tập trung. Để làm rõ hơn các khái niệm trong lĩnh vực công nghiệp CNTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều về công nghiệp CNTT của Luật CNTT; Nghị định số 154/2013/ NĐ-CP ngày 08/11/2013 quy định về khu CNTT tập trung và Quyết định số 2407/QĐ- TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển khu CNTT tập trung đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 để tạo hành lang pháp lý phát triển khu CNTT tập trung. Tại Quyết định 411/QĐ-TTg năm 2022 quy định về phát triển nền móng kinh tế số và xã hội số, để phát triển doanh nghiệp số, Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức triển khai Chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Giai đoạn 2018-2022, doanh thu lĩnh vực công nghiệp CNTT của Việt Nam liên tục tăng trưởng, từ gần 103 tỷ USD năm 2018 lên khoảng 148 tỷ USD năm 2022, đóng góp khoảng 14,4% vào GDP cả nước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử năm 2022 gồm: Điện tử, máy tính và linh kiện, điện thoại và linh kiện đạt trên 113,5 tỷ USD (xuất siêu trên 10 tỷ USD). Năm 2023, do tác động của suy thoái kinh tế cùng bất ổn, gia tăng căng thẳng chính trị, doanh thu công nghiệp CNTT đạt khoảng 142 tỷ USD; khoảng 1.500 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường nước ngoài (tăng gần 4% so với năm 2022). Kim ngạch xuất khẩu ngành hàng điện tử, máy tính và linh kiện, điện thoại và linh kiện năm 2023 dù có sự sụt giảm so với năm 2022, chỉ đạt 110,5 tỷ USD nhưng vẫn giữ vai trò chủ lực trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Từ năm 2017 đến nay, Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) của Việt Nam được cải thiện đáng kể. Năm 2023, Việt Nam được xếp hạng 46/132 quốc gia, nền kinh tế, tăng 13 bậc kể từ vị trí thứ 59 năm 2016. Trong đó, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào của đổi mới sáng tạo, tăng 2 bậc so với năm 2022 (từ vị trí 59 lên 57); đầu ra của đổi mới sáng tạo tăng 1 bậc so với năm 2022 (từ vị trí 41 lên 40). Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đánh giá, Việt Nam là 1 trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ nhất về đổi mới sáng tạo trong thập kỷ qua và là 1 trong 3 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 13 năm liên tiếp (gồm Ấn Độ, Cộng hòa Moldova và Việt Nam). Việt Nam ngày càng có vai trò lớn trong ngành công nghệ phần mềm thế giới, khi liên tục cải thiện thứ hạng và lọt Top 30 thế giới về gia công phần mềm. Xuất khẩu phần mềm của Việt Nam phần lớn cho 2 thị trường chính là Mỹ và Nhật Bản. Các doanh nghiệp chủ yếu làm gia công phần mềm hoặc chỉ thực hiện một số công đoạn theo đơn đặt hàng của nước ngoài trước đây đã chuyển hướng ra thị trường nước ngoài, tư vấn dịch vụ, sáng tạo nội dung.
Với quy mô dân số gần 100 triệu người, có tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao, trên 70% dân số sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet, thị trường nội địa được kỳ vọng là tiềm năng để phát triển công nghiệp CNTT. Bên cạnh đó, với những thành tựu công nghệ nhất định, cùng nền kinh tế năng động và chính sách cởi mở, Việt Nam trở thành điểm sáng đầu tư của nhiều tập đoàn công nghệ trên thế giới như IBM, Intel, Microsoft, Samsung… Các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ trong nước như: FPT, VNPT, Viettel... hứa hẹn phát triển vượt bậc hơn nữa trong tương lai. Nguồn nhân lực CNTT cũng được chú trọng để đáp ứng xu hướng phát triển chung của thế giới, được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng, mà gần đây nhất là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Đến nay, số lượng trường đào tạo chính quy ngành CNTT phát triển nhanh về quy mô cũng như hình thức đào tạo, cung ứng một nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước.
Sự phát triển nhảy vọt và mạnh mẽ của công nghiệp công nghệ thông tin trong thời gian qua đã, đang khẳng định thương hiệu và uy tín của Việt Nam trên bản đồ CNTT thế giới; đưa Việt Nam trở thành một trong những nước mạnh về CNTT trong khu vực; đứng số một về ngành dịch vụ phần mềm trong 6 nước phát triển mạnh nhất khu vực Đông Nam Á.
Giải pháp phát triển công nghiệp CNTT thành ngành kinh tế mũi nhọn
Mặt khác, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành công nghiệp CNTT bằng việc nghiên cứu, ban hành khung kỹ năng về nhân lực công nghệ số theo mục tiêu, theo giai đoạn để tạo đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực số dồi dào và chất lượng. Chú trọng đào tạo nhân lực công nghệ số chất lượng cao đáp ứng nhu cầu cả về lượng và chất; có chính sách đãi ngộ nhân tài.
Phát triển công nghiệp CNTT được kỳ vọng sẽ tạo động lực to lớn, là con đường ngắn nhất và nhanh nhất để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh, tự lực, tự cường. Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch) mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 36/QĐ-TTg ngày 11/01/2024 vừa qua đã xác định công nghiệp công nghệ số là ngành công nghiệp nền tảng, cần có cơ chế chính sách đặc biệt để thúc đẩy phát triển.
Quy hoạch đặt ra định hướng phát triển công nghiệp công nghệ thông tin dựa trên các công nghệ số như Trí tuệ nhân tạo AI, dữ liệu lớn Big Data, chuỗi khối, điện toán đám mây, Internet vạn vật…; tăng cường ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội để hình thành công nghiệp công nghệ số. Trọng tâm phát triển nhanh và bền vững của Ngành là chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang tạo ra những sản phẩm, dịch vụ điện tử, viễn thông, CNTT Make in Viet Nam, góp phần tạo không gian phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và tham gia sâu vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị sản xuất công nghiệp công nghệ số thế giới.
Để phát triển công nghệ CNTT theo Quy hoạch, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025, hình thành và triển khai đề án, dự án 12-14 khu công nghệ thông tin tập trung và thành viên chuỗi khu công viên phần mềm trên cả nước; xây dựng một số khu CNTT tập trung ở các tỉnh, thành phố có đủ điều kiện; ưu tiên triển khai các khu CNTT tập trung có các dự án thành lập trung tâm R&D, sản xuất các sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam phục vụ cho chuyển đổi số quốc gia. Đến năm 2030, hình thành 16-20 khu công nghệ thông tin tập trung và thành viên chuỗi khu công viên phần mềm Thu hút đầu tư, phát triển mạnh các khu CNTT tập trung tại các thành phố trực thuộc Trung ương và một số vùng có sự phát triển mạnh về công nghiệp CNTT. Nâng cấp, mở rộng kết nối các khu CNTT tập trung tại một số địa phương trong vùng trở thành các khu CNTT tập trung lớn của khu vực, trong đó có các trung tâm R&D của các tập đoàn công nghệ lớn quốc tế.
Các khu CNTT tập trung đem lại cơ sở hạ tầng kỹ thuật và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp lĩnh vực CNTT hoạt động, là vườn ươm cho doanh nghiệp mới phát triển, cho hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Đồng thời, đây còn là nơi đặt những trung tâm đào tạo nhân lực quan trọng cho cả nước nói chung và ngành CNTT nói riêng. Khi được đưa vào khai thác, sử dụng sẽ tạo ra hệ sinh thái, nâng cao năng lực cạnh tranh và hàm lượng sản phẩm CNTT Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
| Tính đến tháng 6/2021, cả nước có 08 khu CNTT tập trung đang hoạt động (6 khu độc lập và 2 khu trong chuỗi Công viên Phần mềm Quang Trung), theo mô hình như: Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC), Trung tâm công nghệ phần mềm TP. Hồ Chí Minh (SSP), Khu công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (VNU-ITP), các tòa nhà E-Town (công ty cổ phần cơ điện lạnh REE), Công viên phần mềm Đà Nẵng, Trung tâm giao dịch CNTT Hà Nội và Trung tâm công nghệ phần mềm Cần Thơ… Từ đó đến nay, một số địa phương đã, đang tiếp tục phê duyệt quy hoạch xây dựng Khu CNTT tập trung như Đà Nẵng, Thái Nguyên, Bắc Ninh./.. |