Dấu ấn thống kê

PMI vượt trên 50 điểm, ngành sản xuất Việt Nam tăng trưởng trở lại

Theo báo cáo Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 4/2024 của S&P Global, PMI ngành sản xuất Việt Nam tăng trở lại lên trên ngưỡng 50 điểm trong tháng Tư, khi đạt 50,3 so với 49,9 điểm của tháng Ba. Trong đó, có 3 điểm nhấn nổi bật: Sản lượng tăng trưởng trở lại nhờ số lượng đơn đặt hàng mới tăng; giá cả được ghi nhận giảm tháng thứ hai liên tiếp và việc làm giảm lần đầu tiên trong 3 tháng.

Báo cáo ghi nhận, ngành sản xuất của Việt Nam tăng trưởng trở lại trong tháng Tư khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh giúp sản lượng tăng trở lại. Tuy nhiên, các công ty đã giảm việc làm và niềm tin kinh doanh đã giảm. Trong khi đó, chi phí đầu vào tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng tương đối chậm. Điều này đã cho phép các nhà sản xuất tiếp tục chiết khấu giá cho khách hàng để thu hút đơn đặt hàng mới.
 

Ảnh minh họa

Theo S&P Global, điểm tích cực chính của kỳ khảo sát này là số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng trở lại, và mức tăng là mạnh sau khi giảm nhẹ trong tháng trước. Hơn nữa, tốc độ tăng là nhanh nhất kể từ tháng 8/2022. Các thành viên nhóm khảo sát cho biết, nhu cầu thị trường đã cải thiện và họ đã thành công trong việc thu hút khách hàng mới.
 

Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tăng trở lại, nhưng chỉ tăng nhẹ và thấp hơn so với tổng số lượng đơn đặt hàng mới.

Một nhân tố khác giúp các nhà sản xuất có số lượng đơn đặt hàng mới tăng là giá bán hàng đã giảm tháng thứ hai liên tiếp khi họ phải cạnh tranh về giá và đáp ứng yêu cầu chiết khấu từ khách hàng. Mức giảm giá lần này là đáng kể nhất trong thời gian 9 tháng.

Các công ty đã phải chiết khấu giá bất kể chi phí đầu vào tiếp tục tăng, nhưng mức độ tăng giá đầu vào tương đối nhẹ khiến các công ty có thể dễ dàng hơn trong việc hạ giá bán mà không chịu quá nhiều áp lực lên biên lợi nhuận. Ở những nơi chi phí đầu vào tăng, các thành viên nhóm khảo sát cho biết, giá dầu và chi phí vận chuyển tăng.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh đã giúp sản lượng ngành sản xuất ở Việt Nam tăng trưởng trở lại. Tuy nhiên, mức tăng trưởng chỉ là nhẹ.

Mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới và sản lượng tăng trong tháng Tư, tình trạng nhu cầu yếu hiện nay đã khiến các công ty phải giảm việc làm lần đầu tiên trong 3 tháng và tình trạng này thường là do các công ty cho các công nhân làm việc tạm thời nghỉ.

Tuy nhiên, trong thời điểm số lượng đơn đặt hàng mới tăng trở lại, việc giảm số lượng nhân viên khiến các công ty khó hoàn thành kịp thời các đơn hàng. Kết quả là, lượng công việc tồn đọng đã tăng lần đầu tiên trong 3 tháng, mặc dù mức tăng chỉ là nhẹ.
 

Hoạt động mua hàng đã tăng lần đầu trong 6 tháng để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng, nhưng mức độ tăng chỉ là nhẹ khi các công ty còn ngần ngại trong việc lưu giữ hàng tồn kho. Trên thực tế, tồn kho hàng mua đã giảm mạnh trở lại, từ đó kéo dài thời kỳ giảm hiện nay thành 8 tháng.

Tồn kho hàng thành phẩm cũng giảm, một phần phản ánh sự cần thiết phải đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới đang tăng mạnh vào thời điểm sản lượng còn hạn chế. Tốc độ giảm đã chậm lại so với tháng Ba.

Thời gian giao hàng của nhà cung cấp không thay đổi trong tháng Tư, kết thúc thời kỳ 3 tháng kéo dài thời gian giao hàng. Một số công ty cho biết, hàng tồn kho của nhà cung cấp đầy đủ đã giúp họ đẩy nhanh việc giao hàng.

Tình trạng bất ổn của thị trường gần đây đã khiến niềm tin kinh doanh giảm về mức thấp của 3 tháng. Tuy nhiên, hy vọng về tình trạng nhu cầu ổn định và tích cực trong những tháng tới đã củng cố cho niềm lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong một năm tới.

Bình luận về kết quả khảo sát, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence cho biết, số lượng đơn đặt hàng mới của ngành sản xuất của Việt Nam đã tăng trở lại một cách đáng khích lệ trong tháng Tư sau thời gian yếu kém gần đây. Điều này có lẽ đã làm các công ty bất ngờ vì họ đã quyết định cho công nhân nghỉ việc sau thời kỳ nhu cầu giảm, từ đó khiến lượng công việc tồn đọng tăng. Do đó, chúng ta có thể sẽ thấy một số trong những công nhân này sẽ được quay trở lại làm việc trong tương lai gần. Ông Andrew Harker hy vọng, trong những tháng tới, chúng ta có thể thấy một môi trường ổn định hơn để giúp các nhà sản xuất lập kế hoạch sản lượng và chuẩn bị nguồn lực hiệu quả./.
 
PV
 

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965