Dấu ấn thống kê

Thị trường và giá cả 6 tháng đầu năm 2019

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019 tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước, bình quân mỗi tháng CPI tăng 0,23% so với tháng trước.
 
So sánh CPI 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2015 - 2019
 
Thị trường và giá cả 6 tháng đầu năm 2019

Theo các chuyên gia, những yếu tố làm tăng CPI trong 6 tháng đầu năm 2019, đó là:

- Nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán tăng cao vào hai tháng đầu năm làm tăng giá một số mặt hàng tiêu dùng thuộc nhóm thực phẩm, dịch vụ ăn uống, đồ uống, dịch vụ giao thông công cộng, dịch vụ du lịch… Bình quân 6 tháng đầu năm 2019 so cùng kỳ năm trước: Giá thực phẩm tăng 5,4% (trong đó, riêng giá thịt lợn tăng 14,85% làm cho CPI chung tăng khoảng 0,62%); Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 1,81% và các loại quần áo may sẵn tăng 1,68%; Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,45%; Giá du lịch trọn gói tăng 3,31%.

- Ngày 20/3/2019, Bộ Công Thương điều chỉnh tăng giá điện sinh hoạt cùng với nhu cầu tiêu dùng điện tăng vào dịp Tết và trong Quý II/2019 thời tiết nắng nóng làm cho giá điện sinh hoạt 6 tháng đầu năm 2019 tăng 5,84% so với cùng kỳ năm trước.

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu xây dựng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: Sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo.
 
Bên  cạnh  đó,  từ  tháng  4/2019,  Nhà  xuất  bản  Giáo  dục  Việt  Nam  tăng  giá  sách  giáo  khoa  năm  học 2019 - 2020 làm cho chỉ số giá nhóm văn phòng phẩm tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép… nên 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số giá nhập khẩu so cùng kỳ tăng 0,95%, chỉ số giá xuất khẩu tăng 2,77%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,86%; chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 2,29%.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, có một số yếu tố kiềm chế CPI 6 tháng đầu năm 2019:

(i) Giá xăng dầu trong nước biến động theo xu hướng giá thế giới, trong 6 tháng đầu năm 2019, giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng 4 đợt, giảm 4 đợt và 4 đợt giữ ổn định, tính chung 6 tháng đầu năm 2019 chỉ số giá xăng dầu giảm 3,55% so với cùng kỳ năm 2018, góp phần giảm CPI chung 0,15%.

(ii) Mặc dù giá gas tăng liên tục từ tháng 1/2019 đến tháng 5/2019 nhưng do giá gas tháng 6/2019 giảm 8,79% so với tháng 5/2019, nên bình quân 6 tháng đầu năm 2019 giá gas giảm 0,3% so cùng kỳ năm trước.

(iii) Tháng 12/2018, thành phố Hồ Chí Minh đã điều chỉnh giảm mức thu học phí học sinh bậc nhà trẻ, trung học cơ sở và bổ túc trung học cơ sở tại các trường công lập trên địa bàn, theo đó chỉ số giá nhóm giáo dục chung cả nước giảm 0,55% trong tháng 2/2019 góp phần giảm CPI chung 0,03%.

(iv) Dịch vụ y tế bình quân 6 tháng đầu năm 2019 giảm 0,03% so với tháng 12 năm trước, do thay đổi giá dịch vụ y tế đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế.

(v) Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã phối hợp chặt chẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm cân đối cung cầu, chuẩn bị tốt nguồn hàng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương, điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt.
                                                                            (Nguồn: Vụ Thống kê Giá - TCTK)

Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965