cuối tháng 11/2022 so với cùng thời điểm năm trước
Biểu 1. Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 11 tháng các năm 2018-2022
so với cùng kỳ năm trước của của một số ngành công nghiệp trọng điểm
| 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | |
| Sản xuất đồ uống |
7,8 |
10,9 |
-5,6 |
-4,1 |
31,0 |
|
Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu |
19,5 |
-3,0 |
29,2 |
-18,3 |
18,8 |
|
Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện | 3,7 | 8,9 | -5,4 | 2,8 | 18,4 |
|
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan |
10,3 |
9,8 |
-2,5 |
4,2 |
16,7 |
| Sản xuất trang phục | 11,2 | 7,9 | -4,8 | 6,3 | 16,4 |
| Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu | 2,7 | 10,7 | 0,2 | 1,4 | 16,2 |
|
Sản xuất phương tiện vận tải khác |
5,3 |
-5,5 |
-9,8 |
-2,3 |
12,7 |
|
Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu | 3,3 | 6,3 | 5,0 | 4,3 | 11,3 |
|
Sản xuất thiết bị điện |
6,5 |
9,8 |
2,2 |
-2,1 |
10,4 |
| Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy | 13,5 | 12,1 | 7,4 | 3,1 | 10,3 |
| Sản xuất kim loại | 23,8 | 31,7 | 12,9 | 23,4 | -2,6 |
| Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic | 2,6 | 14,4 | 4,6 | 0,3 | -7,0 |
so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương
| Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) | Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
| Thành lập mới | Giải thể | Thành lập mới | Giải thể | |
| Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy | 48.907 | 5.948 | 35,1 | 9,1 |
| Công nghiệp chế biến chế tạo | 17.323 | 1.990 | 27,0 | 17,1 |
| Xây dựng | 14.861 | 1.516 | 14,7 | 10,5 |
| Kinh doanh bất động sản | 8.202 | 1.081 | 22,2 | 43,9 |
| Vận tải kho bãi | 6.570 | 631 | 20,7 | -2,2 |
| Dịch vụ lưu trú và ăn uống | 5.973 | 814 | 71,4 | -1,5 |
| Sản xuất phân phối, điện, nước, gas | 997 | 426 | -11,2 | 21,4 |
4. Đầu tư
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười Một được các Bộ, ngành và địa phương nỗ lực tập trung triển khai, thực hiện các dự án, nhằm đạt khối lượng tối đa hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế cả năm. Tính chung 11 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 74,9% kế hoạch, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 11 tháng năm 2022 ước đạt 19,68 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười Một ước đạt 58,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, tăng 35,3%; vốn địa phương quản lý 47,7 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%. Tính chung 11 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 445,9 nghìn tỷ đồng, bằng 74,9% kế hoạch năm và tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 74% và giảm 7,7%). Cụ thể:
- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt gần 80 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8% kế hoạch năm và tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
11 tháng năm 2022 phân theo Bộ, ngành
- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt gần 365,9 nghìn tỷ đồng, bằng 76,4% kế hoạch năm và tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 242 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6% và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2021;
Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 106,5 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% và tăng 25,4%;
Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, bằng 95,6% và tăng 7,8%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2022 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:
Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
11 tháng năm 2022 của một số địa phương
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[12] tính đến ngày 20/11/2022 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 25,14 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 8. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam
tính đến ngày 20/11 các năm 2018-2022 (Tỷ USD)
- Vốn đăng ký cấp mới có 1.812 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 11,52 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và giảm 18% về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 6,52 tỷ USD, chiếm 56,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 18,2%; các ngành còn lại đạt 2,9 tỷ USD, chiếm 25,2%.
Trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 11 tháng năm 2022, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 3,23 tỷ USD, chiếm 28,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1,97 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đan Mạch 1,32 tỷ USD, chiếm 11,5%; Trung Quốc 1,29 tỷ USD, chiếm 11,2%; Hàn Quốc 930,8 triệu USD, chiếm 8,1%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 917,8 triệu USD, chiếm 8%.
- Vốn đăng ký điều chỉnh có 994 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 9,54 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14 tỷ USD, chiếm 66,5% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,76 tỷ USD, chiếm 13,1%; các ngành còn lại đạt 4,29 tỷ USD, chiếm 20,4%.
- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 3.298 lượt với tổng giá trị góp vốn 4,08 tỷ USD, giảm 7% so cùng kỳ năm trước. Trong đó có 1.481 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,12 tỷ USD và 1.817 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị gần 2 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,43 tỷ USD, chiếm 35,1% giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 955,9 triệu USD, chiếm 23,4%; ngành còn lại 1,69 tỷ USD, chiếm 41,5%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 11 tháng năm 2022 ước tính đạt 19,68 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 11 tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 15,52 tỷ USD, chiếm 78,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,44 tỷ USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,43 tỷ USD, chiếm 7,3%.
Hình 9. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
11 tháng các năm 2018-2022
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 11 tháng năm 2022 có 101 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 395,8 triệu USD, tăng 61,9% so với cùng kỳ năm trước; có 22 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 78,3 triệu USD, giảm 81,9%.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 474,1 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 236,4 triệu USD, chiếm 49,9% tổng vốn đầu tư; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 42,8 triệu USD, chiếm 9%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 41,1 triệu USD, chiếm 8,7%.
Trong 11 tháng năm 2022 có 27 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Xin-ga-po là nước dẫn đầu với 79,5 triệu USD, chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư; Lào 70 triệu USD, chiếm 14,8%; Hoa Kỳ 38,2 triệu USD, chiếm 8,1%; Đức, Hà Lan, Pháp cùng đạt 34,7 triệu USD, cùng chiếm 7,3%.
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[13]
Thu ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2022 ước tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2021, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn, hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 và khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.
Hình 10. Thu, chi ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2022
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 11/2022 ước đạt 134,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2022 đạt 1.638,9 nghìn tỷ đồng, bằng 116,1% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa tháng 11/2022 ước đạt 105,9 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2022 đạt 1.300,7 nghìn tỷ đồng, bằng 110,5% dự toán năm và tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu từ dầu thô tháng 11/2022 ước đạt 5,5 nghìn tỷ đồng; lũy kế 11 tháng năm 2022 đạt 69 nghìn tỷ đồng, bằng 244,6% dự toán năm và tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 11/2022 ước đạt 21,9 nghìn tỷ đồng; lũy kế 11 tháng năm 2022 đạt 263,5 nghìn tỷ đồng, bằng 132,4% dự toán năm và tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 11/2022 ước đạt 154,5 nghìn tỷ đồng; lũy kế 11 tháng năm 2022 ước đạt 1.359,0 nghìn tỷ đồng, bằng 76,2% dự toán năm và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên 11 tháng năm 2022 đạt 935,7 nghìn tỷ đồng, bằng 84,2% dự toán năm và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 338,3 nghìn tỷ đồng, bằng 64,3% và giảm 0,6%; chi trả nợ lãi 82,8 nghìn tỷ đồng, bằng 79,8% và giảm 8,2%.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng sôi động hơn về tháng cuối năm nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2022 tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ lưu trú, ăn uống gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm trước và dịch vụ du lịch lữ hành gấp 4,1 lần. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước đạt 514,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5.180,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 5%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 16,9% (cùng kỳ năm 2021 giảm 6,8%).
Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Nghìn tỷ đồng
|
Ước tính tháng 11 năm 2022 |
Ước tính 11 tháng năm 2022 |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | ||
|
Tháng 11 năm 2022 |
11 tháng năm 2022 | |||
| Tổng số | 514,1 | 5.180,5 | 17,5 | 20,5 |
| Bán lẻ hàng hóa | 397,1 | 4.079,4 | 10,7 | 14,8 |
| Dịch vụ lưu trú, ăn uống | 53,4 | 536,3 | 51,9 | 56,5 |
| Du lịch lữ hành | 2,4 | 22,9 | 308,7 | 306,5 |
| Dịch vụ khác | 61,2 | 541,9 | 41,5 | 36,8 |
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2022 tăng 14,9% so với 11 tháng năm 2019 - năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù vậy, quy mô tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2022 chỉ đạt 82,5% quy mô của chỉ tiêu này nếu ước tính trong điều kiện bình thường không xảy ra dịch Covid-19 từ năm 2020 đến nay.
Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
11 tháng các năm 2018-2022
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm 2022 ước đạt 4.079,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 11,4%). Trong đó, nhóm vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 22,9%; may mặc tăng 17,6%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 13,8%; lương thực, thực phẩm tăng 10,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Khánh Hòa tăng 30%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 26,8%; Bình Dương tăng 16,2%; Cần Thơ tăng 14,9%. Đà Nẵng tăng 14,3%; Quảng Ninh tăng 11,2%; Hà Nội tăng 11%; Hải Phòng tăng 9,4%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 11 tháng năm 2022 ước đạt 536,3 nghìn tỷ đồng, tăng 56,5% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 121,7%; Cần Thơ tăng 122,8%; Hà Nội tăng 89,1%; Đà Nẵng tăng 81,3%; Đồng Nai tăng 62,1%; Quảng Ninh tăng 58,2%; Bình Dương tăng 36,8%.
Doanh thu du lịch lữ hành 11 tháng năm 2022 ước đạt 22,9 nghìn tỷ đồng, gấp 4,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 11 tháng năm 2022 của một số địa phương so với cùng kỳ năm trước như sau: Đà Nẵng tăng 867,1%; Cần Thơ tăng 647,3%; Hà Nội tăng 322,8%; Hải Phòng tăng 261,3%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 191,6%; Quảng Ninh tăng 52,1%.
Doanh thu dịch vụ khác 11 tháng năm 2022 ước đạt 541,9 nghìn tỷ đồng, tăng 36,8% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể mức tăng 11 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 90,3%; Cần Thơ tăng 57,5%; Đồng Nai tăng 53,4%; Ninh Bình tăng 49,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 33,5%; Hà Nội tăng 30,4%; Hải Phòng tăng 9,8%.
b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[14]
Trong tháng Mười Một, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 57,58 tỷ USD, giảm 1,2% so với tháng trước và giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 673,82 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 13,4%; nhập khẩu tăng 10,1%[15]. Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng năm 2022 ước tính xuất siêu 10,6 tỷ USD.
Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2022
Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 10/2022 đạt 30,37 tỷ USD, cao hơn 99 triệu USD so với số ước tính.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2022 ước đạt 29,18 tỷ USD, giảm 3,9% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 7,38 tỷ USD, tăng 0,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 21,8 tỷ USD, giảm 5,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười Một giảm 8,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 14,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 6,3%.
Tính chung 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 342,21 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 87,46 tỷ USD, tăng 10,1%, chiếm 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 254,75 tỷ USD, tăng 14,6%, chiếm 74,4%.
Trong 11 tháng năm 2022 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 08 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,1%).
Biểu 4. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu 11 tháng năm 2022
|
|
Ước tính 11 tháng năm 2022 (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%) |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD | ||
| Điện thoại và linh kiện | 55.370 | 6,6 |
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 50.522 | 11,0 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác | 41.968 | 23,3 |
| Dệt, may | 34.530 | 18,5 |
| Giày dép | 22.125 | 39,9 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 14.587 | 9,0 |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 10.791 | 13,1 |
| Thủy sản | 10.136 | 27,0 |
|
Ước tính 11 tháng năm 2022 (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước (%) | |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD | ||
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 75.746 | 11,1 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác | 41.481 | -2,0 |
| Điện thoại và linh kiện | 19.777 | 3,0 |
| Vải | 13.606 | 5,1 |
| Chất dẻo | 11.667 | 9,6 |
| Sắt thép | 11.159 | 5,8 |
Hình 14. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu
11 tháng năm 2022 phân theo nhóm hàng
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 11 tháng năm 2022, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,6%, tỷ trọng bằng cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 44,7%, giảm 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 48,9%, tăng 1,8 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,4%, bằng cùng kỳ năm trước.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 101,5 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 109,9 tỷ USD. Trong 11 tháng năm 2022, xuất siêu sang EU ước đạt 29,4 tỷ USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 56,9 tỷ USD, tăng 14,1%; nhập siêu từ Hàn Quốc 35,7 tỷ USD, tăng 16,1%; nhập siêu từ ASEAN 12,2 tỷ USD, tăng 9,4%; nhập siêu từ Nhật Bản 139 triệu USD (cùng kỳ nhập siêu 2,3 tỷ USD).
Hình 15. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu 11 tháng năm 2022
Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng Mười xuất siêu 2,47 tỷ USD[16]; 10 tháng xuất siêu 9,82 tỷ USD; tháng Mười Một ước tính xuất siêu 0,78 tỷ USD. Tính chung 11 tháng năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 10,6 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 0,6 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 27,97 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 38,57 tỷ USD.
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Giá xăng dầu trong nước điều chỉnh theo giá thế giới, giá thuê nhà tăng do nhu cầu của người dân tăng cao là những nguyên nhân chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2022 tăng 0,39% so với tháng trước. So với tháng 12/2021, CPI tháng Mười Một tăng 4,56% và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,37%.
Bình quân 11 tháng năm 2022, CPI tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 2,38%.
Hình 16. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 11 và 11 tháng
các năm giai đoạn 2018-2022 (%)
Trong mức tăng 0,39% của CPI tháng 11/2022 so với tháng trước có 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 03 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
Tám nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
- Nhóm giao thông tăng cao nhất với 2,23% (làm CPI chung tăng 0,22 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 01/11/2022, 11/11/2022 và 21/11/2022 làm cho giá xăng dầu tăng 5,83% (xăng tăng 5,84%; dầu diezen tăng 5,25%). Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm phương tiện đi lại tăng 0,15%; phụ tùng tăng 0,16%; dịch vụ khác với phương tiện vận tải cá nhân tăng 0,15%; dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,14%.
- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,97% (làm CPI chung tăng 0,18 điểm phần trăm) do nhu cầu thuê nhà tăng cao làm giá tiền thuê nhà ở tăng 1,54%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,45% do công sơn và xây tường, lát gạch, công lao động phổ thông tăng, nhu cầu sửa chữa và xây dựng nhà vào cuối năm tăng cao; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,28% do giá xi măng, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất; giá gas tăng 5% do từ ngày 01/11/2022, giá gas trong nước điều chỉnh tăng 20.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng 35 USD/tấn (từ mức 575 USD/tấn lên mức 610 USD/tấn); giá dầu hỏa tăng 7,02% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá ngày 01/11/2022, 11/11/2022 và 21/11/2022. Ở chiều ngược lại, giá nước và giá điện sinh hoạt lần lượt giảm 0,09% và 1,79% do thời tiết mát mẻ nên nhu cầu sử dụng điện, nước giảm.
- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,26% do nhu cầu tiêu dùng và tỷ giá đô la Mỹ tăng cao[17].
- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% do giá nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí vận chuyển và nhu cầu mua sắm quần áo mùa đông tăng.
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác cùng mức tăng 0,22% tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ trang sức tăng 1,08%; cắt tóc, gội đầu tăng 0,23%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 0,1%; đồng hồ đeo tay tăng 0,56%.
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21% tập trung chủ yếu ở các mặt hàng như: Giá tủ lạnh tăng 0,16%; máy hút bụi tăng 0,25%; bình nóng lạnh tăng 0,14%; máy in, máy chiếu và máy quét tăng 0,13%; máy xay sinh tố, ép hoa quả tăng 0,18%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,26%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,26%; bếp gas tăng 0,1%... Ở chiều ngược lại, giá máy điều hòa nhiệt độ giảm 0,22%; máy vi tính và phụ kiện để bàn giảm 0,05%.
- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch cùng mức tăng 0,21% do dịch vụ văn hóa tăng 0,28%; trong tháng có ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 làm nhu cầu mua hoa tăng khiến chỉ số giá nhóm hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 1,91%; giá vé xem phim, ca nhạc tăng 0,82%; đồ chơi tăng 0,29%.
- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%.
(2) Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm:
- Nhóm giáo dục giảm 0,63% (làm CPI chung giảm 0,04 điểm phần trăm), trong đó chỉ số giá dịch vụ giáo dục giảm 0,71% chủ yếu do thành phố Hà Nội thực hiện hỗ trợ học phí cho các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, các trung tâm dạy nghề - giáo dục thường xuyên theo Nghị quyết số 17/2022/NQ-HĐND ngày 12/9/2022, theo đó chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục của Hà Nội giảm 9,54%, tác động làm giảm chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục cả nước.
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07% (làm CPI giảm 0,02 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,59% (tác động CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm) chủ yếu do các nhà xuất khẩu tăng cường thu mua lúa từ nông dân để hoàn thành các hợp đồng đã ký, đồng thời tỷ giá USD tăng làm cho giá gạo xuất khẩu tăng cao đã khuyến khích các nhà xuất khẩu đẩy mạnh bán hàng ra nước ngoài[18]; thực phẩm giảm 0,3% (tác động CPI chung giảm 0,06 điểm phần trăm) do tình hình chăn nuôi ổn định, dịch bệnh được kiểm soát tốt, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ năm 2021, thời tiết ấm áp thuận lợi cho việc thu hoạch rau xanh nên giá một số mặt hàng giảm[19]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,22% (tác động CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm).
- Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.
Lạm phát cơ bản[20] tháng 11/2022 tăng 0,43% so với tháng trước, tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 11 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,38% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,02%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/11/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.727,52 USD/ounce, tăng 3,33% so với tháng 10/2022. Giá vàng tăng mạnh do lạm phát Mỹ tháng 10 đã hạ nhiệt, kéo theo kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể giảm tốc độ tăng lãi suất. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 11/2022 tăng 1,82% so với tháng trước; tăng 3,95% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 5,88% so với cùng kỳ năm trước.
Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới biến động tăng, giảm đan xen. Trong cuộc họp chính sách ngày 02/11/2022, FED đã quyết định tăng lãi suất 0,75 điểm phần trăm, đưa lãi suất quỹ liên bang lên 3,75-4%. Đây là lần tăng 0,75 điểm phần trăm thứ tư liên tiếp do FED đưa ra và là lần tăng lãi suất thứ sáu kể từ tháng 3/2022. Tuy nhiên, sau khi lạm phát Mỹ trong tháng 10 thấp hơn dự kiến đã khiến đồng đô la Mỹ giảm mạnh. Tính đến ngày 25/11/2022, chỉ số đô la Mỹ bình quân tháng 11/2022 trên thị trường quốc tế đạt mức 108,16 điểm, giảm 3,4 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 24.855 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2022 tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 8,71% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước.
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải trong tháng Mười Một duy trì đà tăng trưởng tích cực cả về vận tải hành khách và hàng hóa, trong đó vận chuyển hành khách gấp 2,3 lần và luân chuyển hành khách gấp 3,1 lần so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 28,7% và luân chuyển hàng hóa tăng 29,8%.
Tính chung 11 tháng năm 2022, vận chuyển hành khách tăng 48,7% và luân chuyển tăng 71,4% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 24,6% và luân chuyển tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 283,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 2,2% so với tháng trước và luân chuyển 12,5 tỷ lượt khách.km, tăng 3,2%. Tính chung 11 tháng năm 2022, vận tải hành khách ước đạt 3.350,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 48,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 30,6%) và luân chuyển đạt 155,4 tỷ lượt khách.km, tăng 71,4% (cùng kỳ năm trước giảm 38,5%). Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 3.346,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước và 142,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 57,7%; vận tải ngoài nước ước đạt 4,2 triệu lượt khách vận chuyển, gấp 32,4 lần và 13,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, gấp 27,8 lần cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách mặc dù đã có nhiều khởi sắc nhưng sản lượng vận chuyển 11 tháng năm nay chỉ bằng 72,6% và luân chuyển bằng 68,4% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa có dịch Covid-19.
Biểu 6. Vận tải hành khách 11 tháng năm 2022 phân theo ngành vận tải
| Số lượt hành khách |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Vận chuyển (Triệu HK) |
Luân chuyển (Tỷ HK.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 3.350,4 | 155,4 | 48,7 | 71,4 |
| Đường sắt | 4,1 | 1,5 | 198,1 | 146,5 |
| Đường biển | 7,2 | 0,4 | 57,7 | 75,8 |
| Đường thủy nội địa | 213,4 | 3,1 | 43,5 | 20,7 |
| Đường bộ | 3.080,6 | 99,0 | 47,8 | 33,2 |
| Hàng không | 45,1 | 51,4 | 218,2 | 297,1 |
| Sản lượng hàng hóa |
Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)
| |||
|
Vận chuyển (Triệu tấn) |
Luân chuyển (Tỷ tấn.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 1.832,9 | 402,0 | 24,6 | 32,8 |
| Đường sắt | 5,3 | 4,3 | 3,6 | 18,4 |
| Đường biển | 98,9 | 215,0 | 29,2 | 38,9 |
| Đường thủy nội địa | 371,5 | 86,8 | 28,9 | 40,4 |
| Đường bộ | 1.356,9 | 90,4 | 23,2 | 19,8 |
| Hàng không | 0,3 | 5,5 | 2,9 | -23,3 |
Hình 17. Khách quốc tế đến Việt Nam 11 tháng năm 2022
phân theo vùng lãnh thổ
7. Một số tình hình xã hội
a) Đời sống dân cư
[1 Ngô sinh khối là cây trồng ngắn ngày, cần nhiệt độ ấm áp để phát triển, thân to, rễ chân kiềng, có khả năng chống đổ, chắn gió, được trồng để lấy thân lá, bắp non làm thức ăn thô xanh cho gia súc.
[2] Số liệu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến 15/11/2022.
[3] http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia: Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long giá cá tra nguyên liệu loại 0,8-1,0 kg/con dao động từ 28.000-30.000 đồng/kg, tăng 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.
[4] Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2022 tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; tháng 9/2022 tăng 10,3%; tháng 10/2022 tăng 5,5%; ước tính tháng 11/2022 tăng 5,3%.
[5] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng các năm 2018-2022 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10%; 9,3%; 3%; 4,2%; 8,6%.
[6] Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP tháng 11/2022 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn là: Long An tăng 11%; Vĩnh Phúc tăng 10,7%; Quảng Ninh tăng 7,9%; Hải Phòng tăng 6%; Bắc Giang và Bà Rịa - Vũng Tàu cùng tăng 3,3%; Bình Dương tăng 2,5%; Thái Nguyên tăng 2,3%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,6%; Đồng Nai tăng 1,4%; Hà Tĩnh tăng 0,8%; Bắc Ninh giảm 0,5%; Hải Dương giảm 0,8%; Vĩnh Long giảm 6,7%.
[7] Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải 11 tháng năm 2021 chỉ tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
[8] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: Bắc Giang tăng 38,3%; Cần Thơ tăng 37,8%; Vĩnh Long tăng 28,8%; Quảng Nam tăng 23,9%; Khánh Hòa tăng 23%; Kiên Giang tăng 22%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Lai Châu tăng 23%; Sơn La tăng 26%; Đắk Lắk tăng 34,2%; Điện Biên tăng 51,4%.
[9] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước giảm hoặc tăng thấp là: Bình Định tăng 6,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 5%; Đắk Nông giảm 0,4%; Hà Tĩnh giảm 14,1%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện giảm hoặc tăng thấp: Bình Thuận giảm 3,2%; Quảng Ninh giảm 3,4%; Hà Tĩnh giảm 31,7%; Trà Vinh giảm 35%; Lạng Sơn tăng 5,7%. Địa phương có ngành khai khoáng giảm: Bình Định giảm 20,1%; Cà Mau giảm 13,6%; Đắk Nông giảm 1,7%; Ninh Bình giảm 8,5%; Hà Tĩnh giảm 3%.
[10] Do chi phí sản xuất đầu vào, xăng dầu tăng cao, đơn hàng sụt giảm, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thức ăn cho thủy sản chỉ hoạt động cầm chừng.
[11] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 26/11/2022.
[12]Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/11/2022.
[13] Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính - ngân sách Nhà nước 11 tháng và cả năm 2022.
[14] Ước tính tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu tháng 11/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp ngày 28/11/2022. Tổng cục Thống kê ước tính trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tháng 11/2022 dựa trên số liệu sơ bộ về trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu đến hết ngày 25/11/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp.
[15] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2021 đạt 602,8 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 301,7 tỷ USD, tăng 18,3%; nhập khẩu đạt 301,1 tỷ USD, tăng 28,2%.
[16] Ước tính tháng Mười xuất siêu 2,27 tỷ USD.
[17] Giá nước khoáng tăng 0,22%; giá nước giải khát có ga tăng 0,16%; nước uống tăng lực đóng chai tăng 0,2%; rượu bia tăng 0,33% và thuốc hút tăng 0,22%.
[18] Trong đó, giá gạo tẻ thường tăng 0,46%; gạo tẻ ngon và gạo nếp đều tăng 0,31%. Bên cạnh đó, giá khoai lang tăng 3,66%; ngô tăng 1,75%; mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 1,25%; bột mỳ tăng 0,74%; bột ngô tăng 1,02%; miến tăng 0,48%; bánh mỳ tăng 0,44%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,24%.
[19] Giá thịt gia súc giảm 1,23%, trong đó thịt lợn giảm 1,67% (làm CPI chung giảm 0,06 điểm phần trăm); giá thịt bò giảm 0,25%; nội tạng động vật giảm 0,84%; thịt gia súc đông lạnh giảm 0,12%; giá thịt gia cầm giảm 0,13%; giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,83% do thời tiết thuận lợi khiến rau sinh trưởng nhanh, các loại rau củ vụ đông như bắp cải, su hào đã vào vụ thu hoạch, sản lượng cao khiến giá các loại rau giảm. Ở chiều ngược lại, giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,07% do giá dầu tăng khiến cho chi phí khai thác thủy sản biển ở mức cao trong khi nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước tăng; giá nước mắm, nước chấm tăng 0,4%; sữa, bơ, pho mát tăng 0,34%; đường, mật tăng 0,41%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,37%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,39% do giá nguyên vật liệu tăng; giá trứng các loại tăng 0,63%.
[20] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[21] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh,
Bộ Công an.
[22] Kỳ báo cáo từ ngày 21/10/2022-20/11/2022.
[23] Từ cuối tháng 12/2019 đến ngày 27/11/2022 trên thế giới có 645.654,6 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (6.635,4 nghìn trường hợp tử vong).
[24] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải) ngày 23/11/2022.
[25] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/10-18/11/2022.
[26] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/11/2022.