(Tính đến trung tuần tháng 5/2023)
so với cùng thời điểm năm trước
so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm
| 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | |
| Sản xuất xe có động cơ | 14,7 | -16,8 | 34,7 | 1,8 | -10,1 |
| Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy | 8,7 | 9,1 | 11,5 | 7,1 | -8,5 |
| Sản xuất trang phục | 7,2 | -6,8 | 9,1 | 23,2 | -8,3 |
| Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế | 11,2 | 0,1 | 17,1 | 4,7 | -5,9 |
| Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện | 14,9 | -3,8 | 3,6 | 4,3 | -5,8 |
| Sản xuất phương tiện vận tải khác | -2,1 | -14,9 | 13,6 | 2,6 | -5,6 |
| Sản xuất kim loại | 39,2 | -2,3 | 37,7 | 3,1 | -5,5 |
| Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học | 3,1 | 7,4 | 15,4 | 11,0 | -5,1 |
| Khai thác, xử lý và cung cấp nước | 7,9 | 5,1 | 4,1 | 2,8 | 5,4 |
| Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic | 13,8 | 1,3 | 10,8 | -12,3 | 6,3 |
| Sản xuất đồ uống | 10,1 | -11,3 | 12,8 | 9,8 | 6,5 |
| Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu | 6,6 | 0,0 | 13,3 | 4,9 | 8,1 |
| Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị | 9,5 | -13,0 | -0,2 | -10,6 | 8,1 |
| Sản xuất sản phẩm thuốc lá | 3,0 | 6,6 | 5,6 | 4,1 | 8,6 |
|
Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ
tinh chế
| 82,9 | 11,4 | 0,8 | -3,8 | 12,7 |
| Khai thác quặng kim loại | 14,7 | 10,5 | 7,2 | 7,7 | 13,0 |
| Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) | Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
| Thành lập mới | Giải thể | Thành lập mới | Giải thể | |
| Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy | 23.478 | 2.585 | 6,0 | 3,1 |
| Công nghiệp chế biến chế tạo | 7.363 | 802 | -10,1 | 5,5 |
| Xây dựng | 6.745 | 581 | -5,7 | 2,8 |
| Kinh doanh bất động sản | 1.744 | 554 | -61,4 | 30,4 |
| Vận tải kho bãi | 2.794 | 297 | -13,0 | 12,1 |
| Dịch vụ lưu trú và ăn uống | 2.859 | 382 | 16,3 | 8,5 |
| Sản xuất phân phối, điện, nước, gas | 425 | 143 | -13,8 | -17,8 |
4. Đầu tư
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm được các Bộ, ngành và địa phương tập trung đẩy mạnh thực hiện, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 25,5% kế hoạch, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới tính đến ngày 20/5/2023 ước đạt 5,26 tỷ USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm ước đạt 45,1 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 8,8 nghìn tỷ đồng, tăng 28,4%; vốn địa phương quản lý 36,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,8%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 177 nghìn tỷ đồng, bằng 25,5% kế hoạch năm và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 bằng 24,9% và tăng 10,8%). Cụ thể:
- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 33,6 nghìn tỷ đồng, bằng 25,3% kế hoạch năm và tăng 30,2% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
5 tháng đầu năm 2023 phân theo Bộ, ngành
- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 143,4 nghìn tỷ đồng, bằng 25,6% kế hoạch năm và tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 97,9 nghìn tỷ đồng, bằng 24,1% và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2022;
Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 39,6 nghìn tỷ đồng, bằng 29,1% và tăng 10,3%;
Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 32,7% và tăng 0,1%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2023 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:
Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
5 tháng đầu năm 2023 của một số địa phương
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[9] tính đến ngày 20/5/2023 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 10,86 tỷ USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 8. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam
tính đến ngày 20/5 các năm 2019-2023 (Tỷ USD)
- Vốn đăng ký cấp mới có 962 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 5,26 tỷ USD, tăng 66,4% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và tăng 27,8% về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4,43 tỷ USD, chiếm 84,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 396 triệu USD, chiếm 7,5%; các ngành còn lại đạt 437,6 triệu USD, chiếm 8,3%.
Trong số 53 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2023, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 1,73 tỷ USD, chiếm 32,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 1,09 tỷ USD, chiếm 20,6%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 552,3 triệu USD, chiếm 10,5%; Đài Loan 499,9 triệu USD, chiếm 9,5%; Nhật Bản 317,7 triệu USD, chiếm 6%.
- Vốn đăng ký điều chỉnh có 485 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 2,28 tỷ USD, giảm 59,4% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 5,98 tỷ USD, chiếm 79,3% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 570 triệu USD, chiếm 7,5%; các ngành còn lại đạt 993,8 triệu USD, chiếm 13,2%.
- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.278 lượt với tổng giá trị góp vốn 3,32 tỷ USD, tăng 67,2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 551 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 1,15 tỷ USD và 727 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,17 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 1,53 tỷ USD, chiếm 46,3% giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 666,2 triệu USD, chiếm 20,1%; ngành còn lại 1,12 tỷ USD, chiếm 33,6%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 7,65 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,25 tỷ USD, chiếm 81,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 546,6 triệu USD, chiếm 7,1%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 368,3 triệu USD, chiếm 4,8%.
Hình 9. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
5 tháng đầu năm các năm 2019-2023 (Tỷ USD)
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2023 có 47 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn là 142,7 triệu USD, giảm 51,4% so với cùng kỳ năm trước; có 16 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 173,7 triệu USD, gấp 3,9 lần so với cùng kỳ.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 316,4 triệu USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 147,7 triệu USD, chiếm 46,7% tổng vốn đầu tư; thông tin và truyền thông đạt 108,5 triệu USD, chiếm 34,3%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 15,1 triệu USD, chiếm 4,8%.
Trong 5 tháng đầu năm 2023 có 20 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Ca-na-đa là nước dẫn đầu với 150,2 triệu USD, chiếm 47,5% tổng vốn đầu tư; Xin-ga-po 107,6 triệu USD, chiếm 34%; Lào 26,3 triệu USD, chiếm 8,3%; Cu-ba 9,3 triệu USD, chiếm 3%; I-xra-ren 6,1 triệu USD, chiếm 1,9%.
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[10]
Thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2023 ước giảm 6% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2022, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Hình 10. Thu, chi ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2023
Thu ngân sách Nhà nước:
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 5/2023 ước đạt 103,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 769,6 nghìn tỷ đồng, bằng 47,5% dự toán năm và giảm 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa tháng 5/2023 ước đạt 80,8 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 638,7 nghìn tỷ đồng, bằng 47,9% dự toán năm và giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu từ dầu thô tháng 5/2023 ước đạt 4,5 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 25,6 nghìn tỷ đồng, bằng 61% dự toán năm và giảm 12,1% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 5/2023 ước đạt 18,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 105,3 nghìn tỷ đồng, bằng 44,0% dự toán năm và giảm 20% so với cùng kỳ năm trước.
Chi ngân sách Nhà nước:
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 5/2023 ước đạt 152 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 653,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,5% dự toán năm và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 452,4 nghìn tỷ đồng, bằng 38,6% dự toán năm và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 157,1 nghìn tỷ đồng, bằng 21,6% và tăng 35,5%; chi trả nợ lãi 43 nghìn tỷ đồng, bằng 41,8% và giảm 1,3%.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Đầu tháng Năm có chuỗi ngày nghỉ lễ nên nhu cầu tiêu dùng, ăn uống, vui chơi giải trí của người dân tăng cao hơn tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm ước tính tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 22,1% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 89,4%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm ước đạt 519 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.527,1 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,3%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,3% (cùng kỳ năm 2022 tăng 6%).
Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Nghìn tỷ đồng
|
Ước tính tháng 5 năm 2023 |
Ước tính 5 tháng đầu năm 2023 |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | ||
|
Tháng 5 năm 2023 |
5 tháng đầu năm 2023 | |||
| Tổng số | 519,0 | 2.527,1 | 11,5 | 12,6 |
| Bán lẻ hàng hóa | 409,3 | 1.993,6 | 10,9 | 10,7 |
| Dịch vụ lưu trú, ăn uống | 54,9 | 268,3 | 12,1 | 22,1 |
| Du lịch lữ hành | 2,5 | 11,6 | 40,3 | 89,4 |
| Dịch vụ khác | 52,3 | 253,6 | 14,6 | 15,8 |
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2023 đạt tốc độ tăng cao nhất so với cùng kỳ các năm từ 2015 trở lại đây và tăng 28,3% so với 5 tháng đầu năm 2019 - năm trước khi xảy ra dịch Covid-19.
Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
5 tháng đầu năm các năm 2019-2023
Doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 1.993,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 6,9%). Trong đó, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 14,6%; may mặc tăng 11,1%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 4,8%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 4,2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 1,9%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Bắc Ninh tăng 19,6%; Bình Định tăng 14,8%; Bình Dương tăng 13,8%; Thanh Hóa tăng 12,1%; Hải Phòng tăng 10,6%; Quảng Ninh tăng 9,9%; Cần Thơ tăng 9,8%; Đồng Nai tăng 8,7%; Hà Nội tăng 7,9%; Đà Nẵng tăng 6,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,1%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 268,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 5 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 40,3%; Cần Thơ tăng 27,2%; Đồng Nai tăng 23,6%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 23,4%; Quảng Ninh tăng 21,8%; Hải Phòng tăng 14,4%; Hà Nội tăng 11,9%.
Doanh thu du lịch lữ hành 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 11,6 nghìn tỷ đồng, tăng 89,4% so với cùng kỳ năm trước do trong tháng có nhiều ngày nghỉ lễ. Doanh thu 5 tháng đầu năm 2023 của một số địa phương so với cùng kỳ năm trước như sau: Đà Nẵng gấp 3,5 lần; Hải Phòng gấp 3,2 lần; Hà Nội gấp 3 lần; Bình Thuận tăng 75,2%; Khánh Hòa tăng 71,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 43,5%; Cần Thơ tăng 32,6%; Quảng Ninh tăng 28,6%; Lâm Đồng tăng 18,7%.
Doanh thu dịch vụ khác 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 253,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể mức tăng, giảm 5 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Bình Thuận tăng 59,5%; Đà Nẵng tăng 54,8%; Gia Lai tăng 29,6%; Ninh Thuận tăng 23,5%; Bắc Giang tăng 21,5%; Tiền Giang tăng 17,5%; Lâm Đồng tăng 12,5%; Quảng Ninh tăng 12,3%; Bình Định tăng 11,7%; Hà Nội tăng 9,1%; Cần Thơ tăng 8%; Hải Phòng tăng 4,4%; Quảng Nam giảm 1,1%; Quảng Bình giảm 3,8%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 6,4%.
b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[11]
Hoạt động xúc tiến thương mại được thúc đẩy mạnh mẽ nên kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng Năm tăng so với tháng Tư. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[12] tháng Năm ước đạt 55,86 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và giảm 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 262,54 tỷ USD, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 11,6%; nhập khẩu giảm 17,9%[13]. Cán cân thương mại hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023 ước tính xuất siêu 9,8 tỷ USD.
Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023
Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 4/2023 đạt 27,86 tỷ USD, cao hơn 324 triệu USD so với số ước tính.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5/2023 ước đạt 29,05 tỷ USD, tăng 4,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 7,79 tỷ USD, tăng 1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 21,26 tỷ USD, tăng 5,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Năm giảm 5,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 5,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 5,8%.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 136,17 tỷ USD, giảm 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 35,19 tỷ USD, giảm 13,2%, chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 100,98 tỷ USD, giảm 11,1%, chiếm 74,2%.
Trong 5 tháng đầu năm 2023 có 23 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 87,4% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 65,4%).
Biểu 4. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2023
|
|
Ước tính (Triệu USD) |
Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD | ||
| Điện thoại và linh kiện | 21.173 | -16,0 |
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 20.328 | -9,8 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác | 16.552 | -5,1 |
| Dệt may | 12.320 | -17,8 |
| Giày dép | 8.182 | -13,3 |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 5.428 | 12,5 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 5.008 | -28,7 |
Biểu 5. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2023
|
Ước tính (Triệu USD) |
Tốc độ giảm so với cùng kỳ năm trước (%) | |
| Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD | ||
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 31.694 | -13,1 |
| Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác | 15.767 | -14,6 |
| Vải | 5.134 | -22,9 |
| Số lượt hành khách |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Vận chuyển (Triệu HK) |
Luân chuyển (Tỷ HK.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 1.855,7 | 99,5 | 21,2 | 41,9 |
| Đường sắt | 2,4 | 0,9 | 98,1 | 110,9 |
| Đường biển | 6,9 | 0,4 | 66,8 | 58,2 |
| Đường thủy nội địa | 149,9 | 2,5 | 41,7 | 37,8 |
| Đường bộ | 1.674,1 | 64,4 | 19,3 | 27,5 |
| Hàng không | 22,4 | 31,3 | 37,1 | 82,9 |
| Sản lượng hàng hóa |
Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%) | |||
|
Vận chuyển (Triệu tấn) |
Luân chuyển (Tỷ tấn.km) | Vận chuyển | Luân chuyển | |
| Tổng số | 930,5 | 194,6 | 18,0 | 17,9 |
| Đường sắt | 1,8 | 1,5 | -28,5 | -25,1 |
| Đường biển | 49,7 | 103,9 | 18,4 | 18,9 |
| Đường thủy nội địa | 196,4 | 41,2 | 37,6 | 28,2 |
| Đường bộ | 682,5 | 44,9 | 13,5 | 8,0 |
| Hàng không | 0,1 | 3,1 | -3,3 | 62,3 |
đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[20]
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 5/2023[21] ước đạt 916,3 nghìn lượt người, giảm 6,9% so với tháng trước và gấp 5,3 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, khách quốc tế đến nước ta ước đạt gần 4,6 triệu lượt người, gấp 12,6 lần cùng kỳ năm trước nhưng vẫn chỉ bằng 63% so với cùng kỳ năm 2019 - năm chưa xảy ra dịch Covid-19.
Trong tổng số gần 4,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm nay, khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 4 triệu lượt người, chiếm 88% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và gấp 12,6 lần cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 503,2 nghìn lượt người, chiếm 10,9% và gấp 11,3 lần; bằng đường biển đạt 50,9 nghìn lượt người, chiếm 1,1% và gấp 535,5 lần.
Hình 17. Khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm 2023 phân theo vùng lãnh thổ
7. Một số tình hình xã hội
a) Đời sống dân cư
Theo khảo sát tình hình đời sống của hộ dân cư tháng Năm tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 94,8% (tăng 0,4 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng 4/2023); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 5,2%.
Các nguyên nhân chính làm cho thu nhập giảm được các hộ gia đình đánh giá như sau: 40,7% hộ gia đình có thành viên mất việc làm/tạm nghỉ việc; 27,3% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng và 19,8% hộ đánh giá do giá bán các sản phẩm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm.
Về tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong 5 tháng đầu năm 2023 được các hộ gia đình đánh giá: 31,3% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao; 6,3% hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với con người và 2,1% hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng.
Trong 5 tháng đầu năm 2023, có gần 10,3% hộ gia đình được phỏng vấn nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Trong đó, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ họ hàng, người thân là 6,7%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 3,5%; từ các chương trình, chính sách chung của Quốc gia là 3,1%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 1,7% và 0,02% từ các nguồn khác.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả. Theo báo cáo từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong 5 tháng đầu năm 2023, Chính phủ đã hỗ trợ hơn 18,2 nghìn tấn gạo cho 204,7 nghìn hộ với hơn 1,2 triệu nhân khẩu, trong đó: Hỗ trợ gạo cho người dân dịp Tết Nguyên đán là 16,9 nghìn tấn gạo; hỗ trợ cho người dân kỳ giáp hạt năm 2023 hơn 1,3 nghìn tấn gạo.
b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/4-18/5/2023), cả nước có 5.251 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 122 trường hợp viêm não vi rút; 2.852 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 24 trường hợp sốt phát ban nghi sởi và 5 trường hợp viêm não do mô cầu. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, cả nước có hơn 31,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 126 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 7.261 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 88 trường hợp sốt phát ban nghi sởi và 5 trường hợp viêm não do mô cầu.
Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[22], Mỹ là quốc gia có số ca mắc và tử vong cao nhất trên thế giới. Tại Việt Nam, các địa phương tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống và kiểm soát dịch, đặc biệt là tại các khu vực cửa khẩu để phát hiện trường hợp nghi ngờ mắc Covid-19, nhất là các đối tượng nhập cảnh từ các khu vực đang bùng phát dịch, từ các nơi xuất hiện các biến thể mới. Trong tháng Năm (20/4-21/5) cả nước có 64,5 nghìn trường hợp mắc Covid-19. Kể từ ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/01/2020 đến ngày 27/5/2023, Việt Nam có hơn 11,6 triệu trường hợp mắc, trong đó 10,6 triệu trường hợp đã được chữa khỏi và 43,2 nghìn trường hợp tử vong.
Công tác tiêm vắc xin phòng dịch Covid-19 tiếp tục được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế đảm bảo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19. Từ ngày 08/3/2021 đến ngày 26/5/2023, tổng số liều vắc xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 266,4 triệu liều, trong đó tiêm mũi 1 là 90,3 triệu liều; tiêm mũi 2 là 86 triệu liều; mũi bổ sung là 14,3 triệu liều; mũi nhắc lại lần 1 là 57,9 triệu liều; mũi nhắc lại lần 2 là 17,9 triệu liều.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/4/2023 là 227,2 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 113,1 nghìn người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng 5/2023 xảy ra 09 vụ với 269 người bị ngộ độc (01 trường hợp tử vong). Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, cả nước xảy ra 34 vụ với 613 người bị ngộ độc (09 người tử vong).
c) Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong tháng Năm, phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh, các phong trào thể dục, thể thao được tổ chức rộng khắp, một số hoạt động nổi bật diễn ra trong tháng như: Thanh Hóa chuẩn bị cho Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước năm 2023; báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam phối hợp cùng Nestlé Việt Nam tổ chức họp báo công bố giải bóng đá nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestlé Milo 2023 diễn ra tại Hà Nội; giải Vinfast IRONMAN 70.3 Việt Nam 2023 diễn ra tại Đà Nẵng; Giải Bóng rổ 3x3 Hà Nội Mở rộng lần thứ 4 (3x3 Hanoi Open Cup) năm 2023 diễn ra tại Hà Nội.
Về thể thao thành tích cao, tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 32 (SEA Games 32) diễn ra từ ngày 5 đến ngày 17 tháng 5 tại Campuchia. Đoàn thể thao Việt Nam tham dự với 1.003 thành viên, trong đó có 189 huấn luyện viên và 702 vận động viên. Đây được xem là SEA Games thành công nhất của Việt Nam khi không phải là nước chủ nhà, toàn đoàn đã đạt được nhiều thành tích cao, chiếm ngôi vị số 1 với 359 huy chương, trong đó có 136 huy chương Vàng, 105 huy chương Bạc và 118 huy chương Đồng.
d) Tai nạn giao thông[23]
Trong tháng Năm (từ 15/4-14/5/2023), trên địa bàn cả nước xảy ra 832 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 598 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 234 vụ va chạm giao thông, làm 448 người chết, 367 người bị thương và 252 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 2,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 2,4% và số vụ va chạm giao thông tăng 2,2%); số người chết giảm 2,4%; số người bị thương tăng 9,6% và số người bị thương nhẹ tăng 4,6%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Năm giảm 10,1% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,9% và số vụ va chạm giao thông giảm 24,3%); số người chết giảm 7,6%; số người bị thương tăng 14% và số người bị thương nhẹ giảm 22,5%.Tính chung 5 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.991 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.904 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.087 vụ va chạm giao thông, làm 2.343 người chết, 1.619 người bị thương và 1.154 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 5 tháng đầu năm nay giảm 15,7% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 12,5%; số vụ va chạm giao thông giảm 23,1%); số người chết giảm 15,1%; số người bị thương giảm 1,8% và số người bị thương nhẹ giảm 19,2%. Bình quân 1 ngày trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông, gồm 19 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 7 vụ va chạm giao thông, làm 16 người chết, 11 người bị thương và 8 người bị thương nhẹ.
đ) Thiệt hại do thiên tai[24]
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Năm chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lớn, ngập lụt, sạt lở đất làm 10 người chết, 10 người bị thương; 7.343 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; 16,7 nghìn ha lúa và 3,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 257,2 tỷ đồng, giảm 57,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, thiên tai làm 14 người chết, 19 người bị thương; hơn 8,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; gần 6,4 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 26,1 nghìn ha lúa và 4,6 nghìn hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 380,6 tỷ đồng, giảm 91% so với cùng kỳ năm 2022.
e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong tháng 5/2023, theo báo cáo từ các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan chức năng đã phát hiện 1.594 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.328 vụ với tổng số tiền phạt hơn 23,5 tỷ đồng, giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay đã phát hiện 8.350 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 7.251 vụ với tổng số tiền phạt là 119 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng[25], cả nước xảy ra 191 vụ cháy, nổ, làm 12 người chết và 9 người bị thương, thiệt hại ước tính 17,6 tỷ đồng, giảm 34,5% so với tháng trước và giảm 47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 716 vụ cháy, nổ, làm 37 người chết và 39 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 67 tỷ đồng, giảm 40,5% so với cùng kỳ năm trước./.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
[1] Tính đến ngày 22/5/2023, giá thịt lợn hơi cả nước dao động trong khoảng 51.000 - 55.000 đồng/kg. Chỉ số giá thịt lợn hơi tháng 5/2023 tăng 0,82% so với tháng trước.
[2] Số liệu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến 15/5/2023.
[3] http://agromonitor.vn/category/48/ca-tra: Giá cá tra nguyên liệu tháng 5/2023 tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long dao động từ 27.000-29.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với tháng trước.
[4] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm các năm 2019-2023 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 9,5%; 1,7%; 10%; 8,1%; -2%.
[5] Tốc độ tăng chỉ số IIP tháng 5/2023 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn là: Thái Nguyên tăng 3,3%; Hải Dương tăng 3,1%; Bình Dương tăng 2,6%; Bắc Giang tăng 2,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,5%; Long An tăng 1,2%; Quảng Ninh tăng 1%; Vĩnh Long tăng 0,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,9%; Hải Phòng giảm 10% ...
[6] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng đầu năm 2023 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Gia Lai tăng 21,7%; Tuyên Quang tăng 18,6%; Bắc Giang tăng 15,9%; Phú Thọ tăng 15,3%; Hải Phòng tăng 13,4%; Nam Định tăng 13,3%; Kiên Giang tăng 13,1%; Phú Yên tăng 12,3%; Hậu Giang tăng 8,3%. Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hậu Giang tăng 270,9%; Thái Bình tăng 63,3%; Nam Định tăng 12%.
[7] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Quảng Nam giảm 36,7%; Bắc Ninh giảm 19,1%; Vĩnh Long giảm 16,6%; Sóc Trăng giảm 16,5%; Đà Nẵng giảm 4,8%; Hòa Bình giảm 4,6%. Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 5 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Hà Giang giảm 33,4%; Lai Châu giảm 28,5%; Sơn La giảm 11,9%; Hòa Bình giảm 6,2%; Đà Nẵng giảm 2,7%. Địa phương có chỉ số sản xuất ngành khai khoáng 5 tháng đầu năm 2023 so với cùng kỳ năm trước giảm: Vĩnh Long giảm 66,5%; Hà Giang giảm 27,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 9,1%; Sóc Trăng giảm 6%.
[8] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 25/5/2023.
[9] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/5/2023.
[10] Theo Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính - ngân sách Nhà nước tháng 5 và 5 tháng năm 2023 của Bộ Tài chính gửi ngày 27/5/2023.
[11] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu). Khi tính cán cân thương mại của nền kinh tế thì kim ngạch xuất, nhập khẩu được tính theo giá F.O.B.
[12] Ước tính tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu tháng 5/2023 do Tổng cục Hải quan cung cấp ngày 26/5/2023. Tổng cục Thống kê ước tính trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tháng 5/2023 dựa trên số liệu sơ bộ về trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu đến hết ngày 25/5/2023 do Tổng cục Hải quan cung cấp.
[13] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022 đạt 307,96 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 154,1 tỷ USD, tăng 17,3%; nhập khẩu đạt 153,86 tỷ USD, tăng 16%.
[14] Tháng Tư ước tính xuất siêu 1,51 tỷ USD.
[15] Giá điện sinh hoạt tháng Năm tăng 2,62% so với tháng trước; giá nước sinh hoạt tăng 2,19%.
[16] Chỉ số nhóm gạo tăng 0,27% (Gạo tẻ thường tăng 0,28%; gạo tẻ ngon tăng 0,23%; gạo nếp tăng 0,2%) do giá gạo xuất khẩu tiếp tục ở mức cao. Bên cạnh đó, giá các mặt hàng lương thực chế biến khác như giá mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tháng Năm tăng 0,53% so với tháng trước; bột mì tăng 0,48%; bột ngô tăng 0,25% và bánh mì tăng 0,37%.
[17] Giá thịt lợn tháng Năm tăng 1,32% do nhu cầu ăn uống của người dân tăng trong dịp nghỉ lễ 30/4-1/5; giá thịt bò tăng 0,04%; giá nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 0,87%; giá dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,09%. Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, một số mặt hàng thực phẩm trong tháng có giá giảm so với tháng trước: Giá thịt gia cầm giảm 0,17% do nguồn cung được bảo đảm; giá trứng các loại giảm 1,21%; giá thủy sản tươi sống giảm 0,06%; giá quả tươi, chế biến giảm 1,94%.
[18] Giá uống ngoài gia đình tăng 0,83%; giá ăn ngoài gia đình tăng 0,18%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,26%.
[19] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[20] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an.
[21] Kỳ báo cáo từ ngày 21/4/2023-20/5/2023.
[22] Từ cuối tháng 12/2019 đến ngày 27/5/2023 trên thế giới có 689,4 triệu trường hợp mắc Covid-19 (6.883,5 nghìn trường hợp tử vong).
[23] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải) ngày 23/5/2023.
[24] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/4-18/5/2023.
[25] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/5/2023.