Trong 9 tháng năm 2022, thị trường hàng hóa thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, các yếu tố rủi ro, bất định gia tăng cùng với tốc độ thay đổi chính sách rất nhanh của các nền kinh tế lớn. Chuỗi cung ứng sản xuất, tiêu dùng tiếp tục bị đứt gãy, căng thẳng năng lượng làm lạm phát tại nhiều nước tăng cao. Trong nước, kinh tế phục hồi nhanh ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu tăng cao, cùng với tác động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới đã đẩy giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước tăng. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu quý III và 9 tháng năm 2022 đều tăng so với cùng kỳ năm 2021. Trước tình hình đó, Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, kiềm chế lạm phát, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội.
I. TỔNG QUAN
Trong quý III/2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83% so với quý II/2022 và tăng 6,49% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,65% và tăng 4,62%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 1,28% và tăng 4,4%.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2022 tăng 0,91% so với quý II/2022 và tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III/2022 tăng 1,19% so với quý II/2022 và tăng 8,85% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,65% và tăng 10,15%; tỷ giá thương mại hàng hóa tăng 0,53% và giảm 1,18%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,05% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,71%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,34%.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng tăng 6% so với cùng kỳ năm 2021.
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá 9 tháng tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 10,86%; tỷ giá thương mại hàng hóa giảm 2,3%.
Biến động của chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu trong 9 tháng năm 2022 chủ yếu do các nguyên nhân sau:
1. Yếu tố thị trường
Thị trường hàng hóa thế giới trong 9 tháng năm 2022 có nhiều biến động và chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, chính trị và xung đột vũ trang. Các rủi ro vĩ mô tiếp tục gia tăng như lạm phát tăng cao kỷ lục tại nhiều nước, biến động về nguồn cung lương thực toàn cầu, giá năng lượng tăng cao tại Mỹ và EU, tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất, tiêu dùng chưa được khắc phục. Bên cạnh đó, Mỹ, EU và nhiều nước lớn chuyển từ nới lỏng các biện pháp tài khóa, tiền tệ trong năm 2020-2021 sang thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất với tần suất, mức độ khác nhau trong 9 tháng năm 2022 và chưa có điểm dừng để kiềm chế lạm phát.
Giá cả hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng nhanh do nhu cầu tiêu dùng, đầu tư tăng và ảnh hưởng xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina càng đẩy giá nguyên liệu, nhiên liệu tăng cao. Giá năng lượng tăng cao gây lạm phát trên toàn thế giới và nguy cơ khủng hoảng an ninh năng lượng. Nguồn cung xăng dầu bị ảnh hưởng do chiến sự kéo dài giữa Nga và Ucraina, lệnh cấm vận đối với các sản phẩm từ Nga, trong tháng 7 và tháng 8/2022 OPEC+ tăng sản lượng khai thác dầu thô lên 648.000 thùng/ngày; tháng 9/2022 tăng thêm 100.000 thùng/ngày trong bối cảnh giá dầu tăng mạnh và nguy cơ sụt giảm nguồn cung sau khi Liên minh châu Âu thông báo lệnh cấm nhập khẩu dầu mỏ của Nga. Tuy nhiên, trong 9 tháng năm 2022 nguồn cung dầu thô vẫn thấp hơn nhu cầu sử dụng của thị trường thế giới nên giá dầu tiếp tục duy trì ở mức cao.
Tại cuộc họp trong hai ngày 20-21/9/2022, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất 0,75 điểm phần trăm lần thứ ba liên tiếp trong năm nay nhằm đối phó với lạm phát ở mức cao nhất trong 40 năm qua. Giá đô la Mỹ (USD), giá vàng trên thị trường thế giới nhiều biến động đã gây ảnh hưởng đến giá các mặt hàng kim loại quý, kim loại công nghiệp và các loại hàng hóa xuất, nhập khẩu thanh toán bằng USD dẫn đến giá một số mặt hàng thiết yếu tăng.
Tính đến ngày 25/9/2022, giá dầu Brent bình quân 9 tháng năm 2022 đạt 102,83 USD/thùng, tăng 37,47% so với tháng 12/2021 và tăng 51,29% so với cùng kỳ năm trước[1]; giá xăng Ron 92 tại thị trường Xin-ga-po bình quân 9 tháng đạt 117,13 USD/thùng, tăng 28,03% và tăng 59,33%[2]. Bên cạnh đó, bình quân 9 tháng năm 2022, tại Mỹ một số mặt hàng có tốc độ tăng giá so với cùng kỳ năm trước rất cao như: Giá cà phê tăng 49,13%; giá bông tăng 37,68%; giá lúa mỳ tăng 38,93%; giá ngô tăng 20,09% và giá đậu nành tăng 9,82%.
Thị trường hàng hóa trong nước diễn biến theo thị trường thế giới, giá nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nước 9 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao. Giá nhập khẩu sắt thép tăng 32,3%; giá nhập khẩu xăng dầu tăng 47,65%; giá nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu[3] tăng 28,05%. Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào các ngành sản phẩm sản xuất trong nước 9 tháng năm 2022 tăng từ 0,65%-7,15% so với cùng kỳ năm 2021. Giá xuất khẩu xăng dầu; dầu thô; than; hạt tiêu và sắt thép của Việt Nam tăng lần lượt 73,21%; 69,08%; 35,6%; 32,59% và 15,2%.
2. Chính sách quản lý, điều hành của Chính phủ và các Bộ, ngành
Để chủ động ứng phó với những thách thức trong công tác quản lý và điều hành giá, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Ngày 28/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP Quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá ban hành Văn bản số 882/VPCP-KTTH ngày 10/2/2022, Thông báo số 65/TB-VPCP ngày 2/3/2022 và Thông báo số 81/TB-VPCP ngày 24/3/2022 về các giải pháp cụ thể đối với công tác điều hành giá năm 2022. Ngày 31/7/2022, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 679/CĐ-TTg về việc tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá.
Bên cạnh đó, Chính phủ, Quốc hội đã ban hành một số chính sách quan trọng được thực hiện cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân như giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 31/12/2022 theo Nghị quyết số 13/2021/UBTVQH15; giảm 70% mức thuế bảo vệ môi trường đối với dầu hỏa và giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn (trừ nhiên liệu bay) từ ngày 1/4/2022 đến hết ngày 31/12/2022 theo Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 ngày 23/3/2022; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022 quy định tại Thông tư số 120/2021/TT-BTC ngày 24/12/2021; giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng xăng động cơ, không pha chì từ 20% xuống 10% theo Nghị định số 51/2022/NĐ-CP ngày 8/8/2022; Quyết định số 791/QĐ-TTg ngày 03/7/2022 về nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022; Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động…
Chính phủ và các Bộ, ngành đã triển khai quyết liệt các biện pháp về quản lý, điều hành giá, đồng thời triển khai đồng bộ, toàn diện các chính sách về tài khóa, tiền tệ để kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm đời sống của người dân.
Thực hiện Nghị định số 95/2021/NĐ-CP ngày 01/11/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, 9 tháng năm 2022 giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng 14 đợt, giảm 11 đợt, trong đó giá xăng A95 giảm 710 đồng/lít so với tháng 12/2021; giá xăng E5 giảm 770 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 4.960 đồng/lít. So với cùng kỳ năm trước, giá xăng dầu trong nước bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 41,07%.
II. DIỄN BIẾN CÁC LOẠI CHỈ SỐ GIÁ
1. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2022 tăng 1,83% so với quý II/2022 và tăng 6,49% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,58%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,21%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,68%.
a) Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan quý III/2022 tăng 2% so với quý trước và tăng 4,99% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó sản phẩm từ cây hàng năm tăng 1,32% và tăng 4,98%; sản phẩm từ cây lâu năm tăng 0,64% và tăng 10,53%; sản phẩm từ chăn nuôi tăng 4,3% và tăng 0,7%; dịch vụ nông nghiệp tăng 2,27% và tăng 5,11%; sản phẩm từ săn bắt, đánh bẫy và dịch vụ có liên quan giảm 1,14% và tăng 6,05%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Chỉ số giá sản phẩm từ cây hàng năm, 9 tháng năm 2022 tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá thóc khô giảm 1,25%; giá nhóm sản phẩm ngô và cây lương thực có hạt khác tăng 8,41% do nhu cầu sử dụng làm thức ăn chăn nuôi trong và ngoài nước tăng trong khi nguồn cung nguyên liệu trên thế giới giảm do thời tiết bất lợi; giá rau các loại tăng 9,49%; giá sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 9,31%; giá nhóm sản phẩm mía cây tươi tăng 8,59%.
Chỉ số giá sản phẩm từ cây lâu năm, 9 tháng tăng 9,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá cà phê nhân tăng 23,69% do chi phí đầu vào sản xuất tăng cao (giá nhập khẩu phân bón các loại tăng 40,87%, thuốc trừ sâu và nguyên liệu tăng 4,87%); xung đột quân sự Nga và Ucraina đã tác động tới quá trình lưu thông hàng hóa gây lo ngại về tình trạng khan hiếm cà phê. Giá sản phẩm mủ cao su khô tăng 2,78% theo giá thế giới do nhu cầu nhập khẩu cao su làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại các thị trường lớn như châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc tăng. Giá sản phẩm cây ăn quả tăng 2,75% do chi phí đầu vào sản xuất tăng và nhu cầu tiêu thụ tăng vào dịp Lễ Vu Lan, Rằm tháng 8.
Ở chiều ngược lại, trong 9 tháng năm 2022 giá một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như giá sản phẩm quả chứa dầu giảm 19,38%; giá sản phẩm cây gia vị, cây dược liệu, cây hương liệu lâu năm giảm 1,3% do dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát nên nhu cầu sử dụng các sản phẩm này giảm.
Chỉ số giá sản phẩm từ chăn nuôi, 9 tháng năm 2022 giảm 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn giảm 20,73%, chủ yếu do dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát tốt nên nguồn cung dồi dào[4] trong khi nhu cầu tiêu dùng trong nước tương đối ổn định. Giá sản phẩm chăn nuôi gia cầm 9 tháng năm 2022 tăng 6,01% so với cùng kỳ năm 2021 do chi phí nguyên liệu chăn nuôi tăng đặc biệt giá thức ăn chăn nuôi, dịch vụ an toàn sinh học tăng, cùng với đó nhu cầu tiêu thụ gia cầm tăng trở lại khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Cụ thể, giá sản phẩm chăn nuôi gà tăng 6,17%; vịt, ngan, ngỗng tăng 4,57%.
b) Chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan quý III/2022 tăng 3,34% so với quý trước và tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản phẩm trồng rừng, chăm sóc rừng và cây giống lâm nghiệp tăng 0,64% và tăng 1,64%; gỗ khai thác tăng 5,6% và tăng 10,32%; lâm sản khai thác, thu nhặt khác trừ gỗ tăng 0,38% và giảm 0,18%; dịch vụ lâm nghiệp tăng 0,36% và tăng 0,33%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,21% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá sản phẩm trồng rừng, chăm sóc rừng và cây giống lâm nghiệp tăng 1,28%; gỗ khai thác tăng 6,28%; lâm sản khai thác, thu nhặt khác trừ gỗ giảm 1,04%; dịch vụ lâm nghiệp tăng 1,75%. Giá gỗ khai thác tăng cao chủ yếu do chi phí đầu vào như giá xăng, dầu phục vụ khai thác gỗ và chi phí nhân công tăng; bên cạnh đó nhu cầu nhập khẩu gỗ khai thác từ các nước Trung Quốc, Nhật Bản… tăng cao làm giá trên thị trường thế giới biến động khiến trong nước đẩy mạnh xuất khẩu.
c) Chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng quý III/2022 tăng 1,15% so với quý trước và tăng 11,22% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó giá nhóm sản phẩm thủy sản khai thác tăng 1,54% và tăng 8,08%; nhóm thủy sản nuôi trồng tăng 0,9% và tăng 13,29%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản tăng 7,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá nhóm sản phẩm thủy sản khai thác tăng 4,77%; giá nhóm thủy sản nuôi trồng tăng 9,62%.
Trong nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, chỉ số giá sản phẩm thủy sản khai thác biển 9 tháng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 4,67%; tôm tăng 3,79%; sản phẩm thủy sản khác tăng 5,37%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên liệu đầu vào phục vụ khai thác biển như giá xăng dầu và chi phí nhân công tăng cao, ngoài ra thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng tới khai thác thủy sản.
Trong nhóm sản phẩm thủy sản nuôi trồng, chỉ số giá sản phẩm tôm nuôi nội địa 9 tháng năm nay tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, cá nuôi nội địa tăng 9,92% do giá thức ăn chăn nuôi và giá thuốc thủy sản tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm cá tra tăng cao 24,09% theo giá thế giới, nhu cầu xuất khẩu cá tra tăng mạnh, trong khi giá thức ăn chăn nuôi thủy sản tăng; chỉ số giá sản phẩm tôm thẻ chân trắng tăng 10,05% và tôm sú tăng 7,43%.
2. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý III/2022 tăng 0,65% so với quý trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 23,29%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,05%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,93%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,81%.
a) Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng quý III/2022 tăng 0,9% so với quý trước và tăng 24,18% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 23,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá dầu thô và khí đốt tự nhiên bình quân 9 tháng tăng 44,84% so với cùng kỳ năm trước do giá thế giới tăng cao khi hoạt động sản xuất tại các quốc gia hồi phục, đặc biệt căng thẳng địa chính trị tại một số khu vực như Đông Âu, Trung Đông và xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina đã đẩy giá các mặt hàng năng lượng tăng cao.
Chỉ số giá nhóm than cứng và than non 9 tháng tăng 8,55% so với cùng kỳ năm trước do chi phí đầu vào sản xuất than như giá xăng dầu tăng cao và chi phí nhân công tăng, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam điều chỉnh giá sản xuất các mặt hàng than đá tại một số đơn vị sản xuất theo Quyết định số 02/QĐ-TKV ngày 05/01/2022 và Quyết định số 1139/QĐ-TKV ngày 20/7/2022; Tổng công ty Đông Bắc điều chỉnh giá bán than thị trường trong nước theo Quyết định số 2489/QĐ-ĐB ngày 29/4/2022 và Quyết định số 3296/QĐ-ĐB ngày 07/6/2022.
Chỉ số giá nhóm quặng kim loại và tinh quặng kim loại 9 tháng tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của giá thế giới và lo ngại thiếu hụt nguồn cung từ Ô-xtrây-li-a, đặc biệt Trung Quốc là quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới thực hiện chính sách kiểm soát sản lượng kết hợp với kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các thành phố sản xuất quặng sắt và chính sách zero Covid-19 đã tác động đẩy giá nhóm hàng này tăng cao.
b) Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2022 tăng 0,39% so với quý trước và tăng 3,86% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, một số mặt hàng có mức tăng giá khá cao như:
- Chỉ số giá than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 58,97% do chi phí đầu vào sản xuất tăng, nhu cầu sử dụng nhiên liệu, xăng dầu trên thế giới tăng mạnh khi các nước cơ bản kiểm soát được dịch Covid-19, đặc biệt chịu sự tác động xung đột quân sự Nga và Ucraina, từ đó đã tác động đến giá trong nước.
- Chỉ số giá sản phẩm kim loại tăng 12,23% do giá sản phẩm sắt, thép tăng theo giá thế giới; chi phí đầu vào sản xuất như xăng, dầu, than, chi phí nhân công tăng; nguồn cung sắt, thép toàn cầu giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19 bùng phát tại Trung Quốc và chính sách cắt giảm sản lượng sản xuất. Trong nước, Chính phủ triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, hoạt động xây dựng khởi sắc làm cho nhu cầu sắt, thép xây dựng trên thị trường tăng.
- Chỉ số giá hóa chất tăng 8,81% do giá nguyên vật liệu đầu vào sản xuất hóa chất như xăng dầu, dầu thông, tùng hương, nhựa thông… tăng cao và chi phí vận chuyển trong nước và thế giới tăng.
- Chỉ số giá thực phẩm chế biến tăng 8,22% do chi phí đầu vào sản xuất các loại thực phẩm chế biến như giá thức ăn chăn nuôi; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng; xung đột quân sự Nga và Ucraina đã tác động đến nguồn cung nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thực phẩm chế biến, đồng thời chi phí vận chuyển tăng do giá xăng dầu tăng cao.
Bên cạnh đó, một số mặt hàng có mức giá giảm như chỉ số giá thuốc, hóa dược và dược liệu 9 tháng giảm 1,83% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 trong nước được kiểm soát nên nhu cầu sử dụng các mặt hàng này giảm; chỉ số giá xe có động cơ, rơ moóc giảm 0,67%.
c) Chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí
Chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí quý III/2022 tăng 3,36% so với quý trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu đầu vào sản xuất điện như giá xăng, dầu, chi phí nhân công tăng. Bên cạnh đó, giá than tăng đã tác động làm giá điện tại các nhà máy nhiệt điện tăng lên. Thời tiết nắng nóng khiến nhu cầu sử dụng điện tăng cũng làm cho giá điện sản xuất tăng.
d) Chỉ số giá sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải
Chỉ số giá sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải quý III/2022 tăng 0,25% so với quý trước và tăng 1,62% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do chi phí đầu vào như xăng, dầu, chi phí nhân công phục vụ khai thác nước tăng và nhu cầu sử dụng nước tăng do thời tiết nắng nóng làm cho chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác tăng.
3. Chỉ số giá sản xuất dịch vụ
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III/2022 tăng 1,28% so với quý trước và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 8,01%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,06%; giáo dục và đào tạo tăng 1,36%; hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình tăng 2,25%; hoạt động dịch vụ khác tăng 2,82%.
a) Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi
Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi quý III/2022 tăng 2,8% so với quý trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm 2021.
Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi quý III/2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới. Nguồn cung xăng dầu thế giới bị ảnh hưởng do chiến sự kéo dài tại Ucraina cùng với lệnh cấm vận của Mỹ và châu Âu đối với các sản phẩm từ Nga; công suất lọc dầu trên toàn cầu giảm; dự trữ dầu thô của Mỹ giảm, bất ổn chính trị tại Lybia gây gián đoạn hoạt động sản xuất, Mỹ ban bố lệnh trừng phạt mới đối với Iran…
Trong nước, bình quân quý III/2022 giá xăng dầu tăng 21,77% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, sau hơn 2 năm chịu tác động của dịch bệnh, hoạt động du lịch khởi động trở lại trùng với thời điểm bước vào mùa du lịch hè và nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 nên lượng khách du lịch nội địa tăng. Theo đó, nhóm dịch vụ vận tải hàng không quý III/2022 tăng cao nhất với 66,43% so với cùng kỳ năm trước; nhóm dịch vụ vận tải đường sắt tăng 10,99%; nhóm vận tải đường bộ và xe buýt tăng 10%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 8,01% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá xăng dầu tăng cao trong quý II/2022. Từ tháng 01/2022, giá xăng dầu được điều chỉnh 25 đợt, trong đó có 11 đợt giảm giá, làm cho giá xăng A95 giảm 710 đồng/lít; xăng E5 giảm 770 đồng/lít và dầu diezen tăng 4.960 đồng/lít. Bình quân 9 tháng, giá xăng dầu trong nước tăng 41,07% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:
Chỉ số giá dịch vụ vận tải đường sắt, đường bộ tăng 7,34%, trong đó dịch vụ vận tải đường sắt tăng 8,03%; dịch vụ vận tải đường bộ và xe buýt tăng 7,23% theo giá xăng dầu.
Chỉ số giá dịch vụ vận tải đường thủy tăng 10,54%, trong đó giá dịch vụ vận tải đường ven biển và viễn dương tăng 11,06%. Giá xăng dầu tăng, ảnh hưởng của việc thiếu hụt con-ten-nơ rỗng từ cuối năm 2020, việc kiểm soát dịch Covid-19 ở Trung Quốc nghiêm ngặt nên thời gian vận chuyển bị kéo dài làm tăng chi phí và làm nhu cầu vận tải hàng hóa bằng đường biển tăng là những nguyên nhân chính đẩy giá vận tải đường thủy tăng cao.
Chỉ số giá dịch vụ vận tải đường hàng không tăng 32,57% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, nhu cầu đi lại tăng cao đã khiến giá vận tải hàng không trở về mức giá trước khi có dịch.
Chỉ số giá dịch vụ kho bãi và các dịch vụ liên quan đến hỗ trợ vận tải tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ bưu chính và chuyển phát tăng 1,5%.
b) Chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống
Chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống quý III/2022 tăng 1,22% so với quý trước và tăng 6,28% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, dịch vụ lưu trú tăng 3,08% và tăng 9,63%; dịch vụ ăn uống tăng 0,92% và tăng 5,74%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,06% so với năm 2021. Trong đó:
Chỉ số giá dịch vụ lưu trú 9 tháng tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, nhu cầu du lịch của người dân tăng cao dịp hè và trong kỳ nghỉ Lễ 30/4-1/5, Quốc khánh 2/9, khiến nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng kín phòng, đặc biệt tại các địa điểm du lịch nổi tiếng.
Chỉ số giá dịch vụ ăn uống 9 tháng năm nay tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do dịch Covid-19 được kiểm soát, hoạt động du lịch phục hồi rõ nét làm nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng. Bên cạnh đó, giá xăng dầu cùng với giá nguyên liệu chế biến tăng đã làm tăng giá dịch vụ ăn uống.
c) Chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội
Chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội quý III/2022 tăng 0,06% so với quý trước và tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,79% so với cùng kỳ năm 2021 do thực hiện lộ trình tăng giá các dịch vụ trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ.
d) Chỉ số giá dịch vụ giáo dục và đào tạo
Chỉ số giá dịch vụ giáo dục và đào tạo quý III/2022 tăng 2,13% so với quý trước do một số địa phương thực hiện tăng học phí theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về việc quy định mức thu học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục từ năm học 2022-2023 trở đi tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn. Cùng với đó, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập phải tự chủ về kinh phí điều chỉnh mức tăng học phí phù hợp với quy định. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá dịch vụ giáo dục và đào tạo quý III/2022 tăng 2,82%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 1,36% so với năm 2021.
e) Chỉ số giá hoạt động dịch vụ khác
Chỉ số giá hoạt động dịch vụ khác quý III/2022 tăng 0,77% so với quý trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do chi phí nhân công và phí sửa chữa, bảo dưỡng đồ dùng gia đình trong mùa hè tăng.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá hoạt động dịch vụ khác tăng 2,82% so với cùng kỳ năm 2021.
4. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2022 tăng 0,91% so với quý trước và tăng 5,92% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,2% và tăng 10,85%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,96% và tăng 5,72%; dùng cho xây dựng tăng 0,36% và tăng 8,24%.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2022 tăng chủ yếu do:
- Chỉ số giá sản phẩm chế biến từ dầu mỏ quý III trong nông nghiệp tăng 2,32% so với quý trước và tăng 29,85% so với cùng kỳ năm 2021, trong công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,89% và tăng 30,64%; trong xây dựng giảm 0,41% và tăng 48,14% nguyên nhân chủ yếu do Mỹ và EU cấm vận dầu đối với Nga, nguồn cung khan hiếm làm cho giá dầu mỏ trong nước so với cùng kỳ năm 2021 tăng theo giá thế giới.
- Chỉ số giá hoá chất cơ bản, phân bón và hợp chất nitơ, sản xuất plastic và cao su tổng hợp nguyên sinh quý III tăng 1,8% so với quý trước và tăng 26,95% so với cùng kỳ năm 2021, nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung giảm, chi phí vận chuyển tăng cao và nhu cầu tiêu dùng tăng.
- Chỉ số giá thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản quý III tăng 2,35% so với quý trước và tăng 8,43% so với cùng kỳ năm 2021, chủ yếu do giá nguyên liệu nhập khẩu đầu vào để sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng, nguồn cung nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trên thế giới giảm do ảnh hưởng thời tiết bất lợi, kết hợp chi phí vận chuyển tăng làm cho giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng.
- Chỉ số giá sản phẩm dệt quý III tăng 4,04% so với quý trước và tăng 8,19% so với cùng kỳ năm 2021, nguyên nhân chủ yếu do giá nguyên nhiên vật liệu xơ, sợi dệt nhập khẩu tăng và nhu cầu vải may mặc tăng vào mùa khai giảng năm học mới.
- Chỉ số giá nhóm dịch vụ phá dỡ và chuẩn bị mặt bằng quý III tăng 2,64% so với quý trước và tăng 8,06% so với cùng kỳ năm 2021; chỉ số giá dịch vụ hoàn thiện công trình xây dựng tăng 1,82% và tăng 6,41% do giá nhân công tăng và nhu cầu xây dựng tăng.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 10,29%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,76%; dùng cho xây dựng tăng 8,96%.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng năm 2022 tăng cao do các nhóm nguyên nhiên vật liệu thiết yếu trong sản xuất tăng. Cụ thể:
- Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, nhóm hoá chất cơ bản, phân bón và hợp chất nitơ, sản xuất plastic và cao su tổng hợp nguyên sinh tăng 29,86% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chế biến từ dầu mỏ tăng 29,74%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 9,11%; sản phẩm cây hàng năm tăng 4,17% do nguồn cung giảm, chi phí vận chuyển tăng, trong khi nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng.
- Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, nhóm sản phẩm nguyên liệu chế biến từ dầu mỏ tăng 31,82% so với cùng kỳ năm trước; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 11,56%; sản phẩm gang, sắt, thép tăng 10,1%.
- Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng, nhóm sản phẩm nguyên liệu chế biến dầu mỏ (gồm: nhựa đường; nhựa; dầu diesel; dầu nhớt…) tăng 48,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước tăng 13,37%; sản phẩm gang, sắt, thép tăng 11,08%.
5. Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ giá thương mại hàng hóa
a) Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý III/2022 tăng 1,19% so với quý trước và tăng 8,85% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,9% và tăng 8,98%; nhóm nhiên liệu tăng 2,85% và tăng 70,12%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,17% và tăng 6,96%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 9,29%; nhóm nhiên liệu tăng 67,54%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 6,35%.
Trong 9 tháng năm nay, 40 nhóm hàng xuất khẩu chính đều có chỉ số giá bình quân tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
Giá xuất khẩu dầu thô tăng 69,08% chủ yếu do giá hải thạch Condensate và dầu thô mỏ tê giác trắng, mỏ Bạch Hổ và Rồng tăng. Giá xăng dầu các loại tăng 73,21% do xăng A95 và dầu diesel xuất khẩu đi thị trường Xin-ga-po và Úc tăng mạnh vào tháng 7, tháng 8/2022. Đồng thời, giá xăng dầu thế giới vẫn duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước.
Giá xuất khẩu phân bón 9 tháng tăng 48,81% so với cùng kỳ năm trước do Nga là nước xuất khẩu phân bón đứng đầu thế giới tạm ngừng xuất khẩu, làm cho nguồn cung phân bón trên thế giới giảm, tạo áp lực tăng giá.
Giá xuất khẩu sắt, thép 9 tháng tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu tiêu thụ thép của các nền kinh tế lớn tăng cao, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và lắp ráp ô tô.
b) Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý III/2022 tăng 0,65% so với quý trước và tăng 10,15% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,76% và tăng 10,29%; nhóm nhiên liệu tăng 0,3% và tăng 37,49%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,67% và tăng 8,97%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 10,82%; nhóm nhiên liệu tăng 42,2%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 9,53%.
Trong 42 nhóm hàng nhập khẩu chính, 38 nhóm hàng có chỉ số giá 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
Giá nhập khẩu xăng dầu tăng 47,65% theo giá xăng dầu thế giới.
Giá nhập khẩu phân bón tăng 40,87% do nguồn cung phân bón đang khan hiếm và chi phí vận chuyển tăng cao. Nhập khẩu phân bón từ Nga gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với phân kali do Nga và Belarus chiếm gần 50% lượng kali cung cấp trên toàn thế giới. Nguồn cung Ure tại châu Âu khan hiếm khi nhiều nhà máy ngừng hoặc cắt giảm sản xuất do giá khí đốt tăng làm cho giá phân bón Ure tăng.
Giá nhập khẩu sắt, thép tăng 32,3% do kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phục hồi, nhu cầu cho sản xuất, xây dựng tăng cao. Trung Quốc áp đặt các biện pháp kiểm soát sản lượng nghiêm ngặt và giảm dần sản lượng xuất khẩu cùng chính sách zezo Covid-19 khiến nguồn cung sắt, thép toàn cầu sụt giảm.
Giá nhập khẩu lúa mỳ tăng 28,67% do giá mặt hàng này ở Ca-na-đa và
Ô-xtrây-li-a tăng cao, đồng thời ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm nguồn cung giảm. Khoảng 30% lượng lúa mỳ xuất khẩu trên thế giới đến từ Nga và Ucraina, do đó xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina dẫn đến nguồn cung lúa mỳ giảm. Thời tiết nóng và hạn hán trên diện rộng do thiếu mưa hồi đầu hè cùng với giá năng lượng, nguyên vật liệu, phân bón tăng cao đang làm tăng chi phí sản xuất nông nghiệp khiến giá lúa mỳ tăng.
Ở chiều ngược lại, có 4 nhóm hàng có chỉ số giá nhập khẩu 9 tháng giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm giá nhập khẩu xe máy, linh kiện và phụ tùng giảm 7,34%; giá nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 0,66%; giá nhập khẩu sản phẩm từ cao su giảm 0,4%; linh kiện phụ tùng ô tô giảm 0,06%.
c) Tỷ giá thương mại hàng hóa
Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT)[5] quý III/2022 tăng 0,53% so với quý trước và giảm 1,18% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó sắt, thép giảm 8,89% và giảm 14,17%; hàng rau quả tăng 2,29% và giảm 1,14%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,75% và giảm 3,09%; cao su giảm 1,63% và giảm 3,39%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 0,79% và tăng 7,22%; hàng thủy sản tăng 0,14% và tăng 5,67%; xăng dầu các loại tăng 7,91% và tăng 28,28%.
Tính chung 9 tháng năm 2022, TOT giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sắt, thép giảm 12,93%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 5,68%; cao su giảm 3,63%; hàng rau quả giảm 2,63%; xăng dầu các loại tăng 17,31%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 6,15%; hàng thủy sản tăng 4,55%.
TOT 9 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước do chỉ số giá xuất khẩu có mức tăng thấp hơn mức tăng của chỉ số giá nhập khẩu, phản ánh Việt Nam đang ở vị trí không thuận lợi khi giá hàng nhập khẩu có lợi thế hơn so với giá hàng xuất khẩu.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
[1] Nguồn số liệu: https://vn.investing.com/commodities/brent-oil-historical-data.
[2] Nguồn số liệu: http://minhbach.moit.gov.vn/?page=petroleum_singapore&menu_id=54.
[3] Nguyên liệu gồm: Bột thịt, bột huyết, bột xương; bột cá, bột tôm; bột đậu nành; bã đậu nành; bã, phế liệu từ quá trình ủ, chưng cất; khô dầu đậu tương…
[4] Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2022 ước tính đạt 3232,6 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.
[5] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.