Theo nhận định của các chuyên gia, sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tô lên những gam màu sáng trong bức tranh kinh tế - xã hội cả nước. Song, bên cạnh đó vẫn hiện hữu những “đốm đen nguy hại” cùng một số nguy cơ tụt hậu, đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng nhằm thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới |
Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội của Quốc hội vào cuối năm 2018, chất lượng tăng trưởng nước ta được xác định là đã đi đúng hướng, thể hiện trước hết ở sự tăng trưởng toàn diện trong cả ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong nông nghiệp có sự tăng trưởng ở tất cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp thể hiện rõ qua hiệu quả của tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tạo sự chuyển biến rõ rệt về cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế ở nông thôn. Sản xuất chuyển đổi mạnh theo hướng chất lượng và giá trị gia tăng; sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ được quan tâm phát triển; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, giải quyết việc làm, giảm nghèo. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp đã giảm dần phụ thuộc vào công nghiệp khai khoáng (nhất là đối với dầu thô, than đá); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trưởng nhanh, luôn giữ vai trò động lực trong tăng trưởng của ngành công nghiệp. Trong khi đó, lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt du lịch, đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế và là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh trong thời gian qua. Bình quân giai đoạn 2011-2017, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 6,08%, là quốc gia có mức tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.
Quan trọng hơn, sự tăng trưởng của nước ta trong những năm gần đây không còn chỉ dựa vào đầu tư và xuất khẩu mà đã chú trọng đến thị trường trong nước. Cùng với đó, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ một quốc gia có trình độ phát triển thấp trở thành một nền kinh tế có thu nhập trung bình với tốc độ phát triển cao và ổn định, nhờ những nỗ lực cải thiện 3 điểm nghẽn chiến lược cản trở sự phát triển là thể chế, cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực.
Có thể nói, sau hơn 30 năm đổi mới, diện mạo nền kinh tế nước ta đã có sự thay đổi nhanh chóng, đời sống người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh; Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, chất lượng tăng trưởng kinh tế nước ta được cải thiện đáng kể: Năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011- 2015. Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư cũng được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018; bình quân giai đoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.
Đáng chú ý là, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính chung giai đoạn 10 năm 2007-2016, NSLĐ theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP 2011) của Việt Nam tăng trung bình hàng năm 4,2%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Xin-ga-po (1,5%/năm); Ma-lai-xi-a (1,9%/năm); Thái Lan (2,5%/năm); In-đô-nê-xi-a (3,5%/năm); Phi-li-pin (2,8%/năm). Năm 2018, năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động, tăng 5,93% so với năm 2017, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016 và xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm 2017 do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm tăng cao. Tính theo giá so sánh, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2018 tăng 6% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,77%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015, tính chung giai đoạn 2011- 2018 NSLĐ tăng bình quân 4,87%/năm.
Những tháng đầu năm 2019, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được đánh giá có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thuộc hàng tốt nhất khu vực. Trong đó, điểm nhấn quan trọng là mô hình tăng trưởng truyền thống thâm dụng vốn và lao động được thay thế bởi mô hình tăng trưởng mới, với yếu tố then chốt là tích lũy năng lực công nghệ và vốn,đổi mới sáng tạo là yếu tố trọng tâm.
Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nếu Việt Nam áp dụng kịch bản tăng trưởng theo mô hình Ứng dụng CMCN 4.0, ước tính GDP nước ta đến năm 2030 sẽ tăng thêm 60,6 tỷ USD và đến năm 2045 tăng thêm 168,6 tỷ USD, với mức tăng trung bình 1,1% mỗi năm.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế cũng thẳng thắn thừa nhận, những kết quả trên chưa đáp ứng yêu cầu phát triển cũng như chưa tương xứng với tốc độ phát triển mà Việt Nam kỳ vọng. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến khó lường, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro với kinh tế thế giới và tác động không nhỏ đến kinh tế trong nước, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều nguy cơ, trong đó nguy cơ bị bỏ lại và rơi vào bẫy thu nhập trung bình là rất lớn.
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là một nước đang phát triển, chất lượng tăng trưởng có tiến bộ nhưng còn chậm. Mỗi năm, Việt Nam đều đạt mục tiêu kế hoạch tăng trưởng đặt ra nhưng 10 năm lại có xu hướng giảm dần. Nếu so sánh với các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong 30 năm qua thì Việt Nam đi nhanh nhưng có“bước chân ngắn”, dẫn đến nguy cơ tụt hậu cao.
Ngoài ra, mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã từng bước tăng lên trong thời gian qua song còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người nước ta năm 2017 theo giá hiện hành đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.389 USD, chỉ xếp thứ 136/188 quốc gia và vùng lãnh thổ, thấp hơn nhiều khi so với Ma-lai-xi-a 9.945 USD, Thái Lan 6.594 USD. Hai quốc gia In-đô-nê-xia và Phi-li-pin cũng là những quốc gia thuộc nhóm thu nhập thấp nhưng vẫn gấp Việt Nam lần lượt là 1,6 lần và 1,3 lần. Như vậy, việc phấn đấu để mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt 3.200-3.500 USD vào năm 2020 được Đại hội Đảng lần thứ XII đặt ra và theo kịp các nước trên thế giới sẽ là một thách thức rất lớn, nhất là khi các quốc gia trên thế giới đang không ngừng thúc đẩy cải cách nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, tạo thêm nhiều việc làm....
Nhìn lại thời điểm năm 2014, trong nhóm các nước ASEAN có thu nhập trung bình thấp bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines và Việt Nam, nước ta đứng thứ 2 với mức GDP bình quân đầu người đạt 2.052 USD, chỉ sau Philippines đạt 2.852 USD, cao hơn Lào khoảng 1,05 lần, cao hơn Campuchia 1,8 lần và Myanmar 1,6 lần. Nhưng từ sau năm 2015, Lào đã vượt lên chiếm vị trí thứ 2 của Việt Nam trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp của khu vực ASEAN với mức GDP bình quân đầu người đạt 2.221 USD năm 2016 và 2.530 USD năm 2017. Điều này cho thấy Lào, Campuchia có thể nâng cao cạnh tranh và có cơ hội phát triển hơn nếu Việt Nam không có sự đột phá, tạo bước ngoặt trong kinh tế.
Hơn nữa, báo cáo tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam (VRDF) cũng cho thấy, tổng thu nhập quốc gia (GNI) của Việt Nam chỉ bằng 12% tổng GNI của khu vực Đông Nam Á; GNI bình quân đầu người chỉ bằng 48,3% mức GNI bình quân đầu người của khu vực theo USD giá thực tế và bằng khoảng 52,5% tính theo sức mua tương đương. So với các nước ASEAN, mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng GNI theo giá hiện hành bình quân thời kỳ 2011-2017 cao hơn tốc độ tăng bình quân của nhiều nước nhưng GNI bình quân đầu người của nước ta năm 2017 chỉ mới bằng 23% Ma-lai-xi-a; 37,8% Thái Lan, 59,7% Phi-li-pin và 61,5% của In-đô-nê-xi-a.
So với cả khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, GNI của Việt Nam chỉ bằng khoảng 0,9% tổng GNI, trong khi GNI bình quân đầu người chỉ bằng khoảng 21,3% mức GNI bình quân đầu người của khu vực tính theo USD giá thực tế và bằng 35,5% tính theo sức mua tương đương. Còn so với thế giới, GNI bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng khoảng 21% mức bình quân của thế giới tính theo USD giá thực tế và khoảng 38% tính theo sức mua tương đương.
Như vậy, nếu xét trên góc độ quy mô GDP của toàn bộ nền kinh tế, Việt Nam hiện đi sau In-đô-nê-xi-a 14 năm, Thái Lan 11 năm, Ma-lai-xi-a 9 năm, Phi-li-pin 6 năm, thậm chí đi sau Hàn Quốc tới gần 30 năm (số liệu của Tổng cục Thống kê). Khoảng cách còn khá xa về kinh tế so với thế giới và khu vực, chất lượng tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững là những điều đáng suy nghĩ, nhất là khi Việt Nam luôn thuộc nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất thế giới trong vòng 30 năm qua.
Thêm một điều đáng lo ngại là, tuy Việt Nam có tốc độ tăng năng suất lao động cao nhất của khu vực ASEAN trong những năm qua, nhưng còn thấp so với các nước trong khu vực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2018 đạt 11.142 USD, chỉ bằng 7,3% mức năng suất của Singapore; 19% của Ma-lai-xi-a; 37% của Thái Lan; 44,8% của In-đô-nê-xi-a và bằng 55,9% NSLĐ của Phi-li-pin; NSLĐ của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á chỉ cao hơn NSLĐ của Cam-pu-chia (gấp 1,6 lần).
Đáng chú ý là chênh lệch về năng suất lao động giữa Việt Nam với các nước trong khu vực vẫn tiếp tục gia tăng. Cụ thể, theo nghiên cứu của World Bank, chênh lệch mức năng suất lao động (tính theo PPP năm 2011) của Singapore và Việt Nam tăng từ 132.566 USD năm 2011 lên 141.276 USD năm 2018; tương tự, của Ma-lai-xi-a từ 42.397 USD lên 47.545 USD; Thái Lan từ 14.985 USD lên 18.973 USD; In-đô-nê-xi-a từ 11.480 USD lên 13.707 USD; Phi-li-pin từ 6.171 USD lên 8.776 USD. Điều này cho thấy Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị tụt hậu về năng suất lao động và nền kinh tế trong nước phải đối mặt trong việc bắt kịp mức năng suất lao động của các nước.
Có nhiều nguyên nhân làm giảm sự bứt phá trong cải thiện năng suất lao động của Việt Nam, đó là: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ “mũi nhọn” như tài chính, tín dụng, du lịch còn chiếm tỷ trọng thấp; Lao động trong khu vực nông nghiệp còn lớn, trong khi năng suất lao động ngành nông nghiệp thấp hơn nhiều so với các ngành kinh tế khác; Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ sử dụng trong nền kinh tế còn lạc hậu; Lượng lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, chưa đạt được quy mô tối ưu để có được mức NSLĐ cao nhất; Chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa cao; Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tồn tại nhiều bất cập; Năng lực quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hạn chế; Các doanh nghiệp trong nước chậm tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; Còn một số “điểm nghẽn” về cải cách thể chế và thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, tỷ lệ đóng góp của TFP cho tăng trưởng GDP còn ở mức thấp. Giai đoạn 2011-2015, mức đóng góp của TFP là khá thấp với 33,58%, trong khi tỷ đóng góp TFP của Thái Lan là 59% và Phi-li-pin là 46%.
Nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam còn thể hiện ở việc chỉ số môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nước ta vẫn ở mức trung bình trên bảng xếp hạng quốc tế; tỉ lệ lao động đáp ứng trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lao động có việc làm đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp nghề” trở lên trong quý I năm 2019 của cả nước ước tính là 12,1 triệu người, chỉ chiếm 22,2% số lao động có việc làm của toàn quốc. Các chuyên gia còn cho rằng Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Hướng tới tầm nhìn và khát vọng về một quốc gia thịnh vượng vào năm 2045, Việt Nam xác định sẽ thực hiện đồng bộ những giải pháp nhằm tạo chuyển biến thực chất hơn nữa về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đặc biệt, Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung giải quyết ba điểm nghẽn để chuyển hóa thành 3 đột phá chiến lược thực sự phục vụ cho yêu cầu phát triển. Về vấn đề thể chế, sẽ đẩy mạnh cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, tạo kênh tương tác trực tiếp giữa người dân và chính quyền, xây dựng một cơ chế mà các chủ thể trong xã hội có thể tham gia một cách hiệu quả, trực tiếp vào quá trình lập chính sách, ưu tiên xây dựng khung pháp lý về số hoá và cổng dịch vụ công quốc gia. Đồng thời đổi mới cơ chế tuyển dụng, đánh giá cán bộ để lựa chọn được người tài phục vụ trong hệ thống hành chính.
Xác định chất lượng nguồn nhân lực là chìa khóa vàng cho sự thành công trong tương lai, Việt Nam sẽ nỗ lực tìm kiếm những giải pháp hiệu quả để xây dựng nguồn lực con người chất lượng, phục vụ tăng trưởng bền vững.
Về cơ sở hạ tầng, tập trung các giải pháp khơi thông mọi nguồn lực, tạo lập các cơ chế sáng tạo trong hợp tác công - tư để gia tăng nhanh chóng năng lực kết cấu hạ tầng phục vụ yêu cầu phát triển, nhất là trong kết nối vùng miền, các cụm kinh tế trọng điểm. Đặc biệt trong giai đoạn tới, Việt Nam sẽ ưu tiên đầu tư cho hạ tầng thông minh, hạ tầng công nghệ số để tăng khả năng kết nối các yếu tố và tài nguyên của nền kinh tế.
Bên cạnh thực hiện ba đột phá nêu trên, để bắt nhịp với thời đại và xu hướng mới, Chính phủ sẽ bổ sung thêm hai đột phá mới được coi là động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong thập niên tới, đó là: (1) Thúc đẩy năng lực sáng tạo và ứng dụng công nghệ 4.0 để tăng năng suất lao động trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp; (2) Thúc đẩy và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, coi đây là một trong các đòn bẩy quan trọng, tạo sức cạnh tranh, tạo sự linh hoạt cho nền kinh tế trong điều kiện môi trường kinh tế quốc tế và khoa học công nghệ nhiều biến động cũng như giúp các doanh nghiệp có sức trở mình lớn, không bị vướng nhiều ràng buộc về thể chế và quy mô.
Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục chỉnh sửa, nâng cấp và hoàn thiện các quy định về chuẩn mực môi trường kinh doanh theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với những biện pháp, hành động mạnh mẽ hơn. Trong năm 2019, Chính phủ đang có sự chuẩn bị cho Chiến lược phát triển mới cho thời kỳ 2021-2030 và các chương trình nghị sự, đặt nền móng hướng tới tầm nhìn năm 2045.
Với sự quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ, tin tưởng rằng Việt Nam sẽ vượt qua thách thức, phát triển bứt phá, thoát khỏi nguy cơ tụt hậu và thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới./.
Bích Ngọc