Dấu ấn thống kê

Việt Nam xuất siêu 24,61 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2023

Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê, 10 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 557,95 tỷ USD, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 291.28 tỷ USD, giảm 7,1%; nhập khẩu đạt 266,67 tỷ USD, giảm 12,3%. Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng năm 2023 ước tính xuất siêu 24,61 tỷ USD, gấp 2,6 lần so với mức xuất siêu 9,4 tỷ USD cùng kỳ năm 2022.

Riêng trong tháng 10/2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 61,62 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười ước đạt 32,31 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước, đóng góp vào mức tăng xuất siêu của 10 tháng đầu năm 2023. Cụ thể: Khu vực kinh tế trong nước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 5,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 23,82 tỷ USD, tăng 5,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 5,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 3%.
 
Việt Nam xuất siêu 24,61 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2023

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, xuất siêu 10 tháng đầu năm 2023 cao gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm 2022
 
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2023 giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước, nhưng trị giá xuất khẩu tháng 10 tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp vào mức thặng dư thương mại 24,61 tỷ USD của 10 tháng năm 2023. Điều này cho thấy, về cuối năm 2023, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có sự khởi sắc so với tháng trước, lấy lại nhịp tăng trưởng; trong đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng nhanh hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong 10 tháng năm 2023 có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 07 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66,2%). Về cơ cấu, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 3,44 tỷ USD, chiếm 1,2%; nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 257,42 tỷ USD, chiếm 88,3%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 22,97 tỷ USD, chiếm 7,9%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 7,45 tỷ USD, chiếm 2,6%.
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2023 ước đạt 29,31 tỷ USD, tăng 2,9% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,36 tỷ USD, tăng 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,95 tỷ USD, tăng 2,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 5,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 266,67 tỷ USD, giảm 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng năm 2023 có 41 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 91,4% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 03 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 43,4%).

Về thị trường, trong 10 tháng đầu năm 2023, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 78,6 tỷ USD, xuất siêu sang thị trường này ước đạt 67,1 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 89,8 tỷ USD.  10 tháng năm 2023, xuất siêu sang EU ước đạt 23,7 tỷ USD, xuất siêu sang Nhật Bản 1,6 tỷ USD; nhập siêu từ Trung Quốc 40,5 tỷ USD, giảm 23,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 23,4 tỷ USD, giảm 27,6%; nhập siêu từ ASEAN 6,5 tỷ USD, giảm 38,2%.

Giai đoạn cuối năm, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục nhịp tăng trưởng nhờ nhu cầu chi tiêu cho các dịp lễ lớn cuối năm và đầu năm sau từ các thị trường lớn. Bên cạnh đó, để đẩy mạnh xuất khẩu, vượt qua giai đoạn khó khăn, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh cần tuân thủ các quy tắc xuất xứ và chất lượng nhằm tận dụng tối đa ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các Hiệp định có lợi thế lớn như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA)… đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm và mở rộng thị trường mới./.
 
P.V


Người đăng: Ban Biên tập

Con số và Sự kiện

Đánh giá chất lượng bài viết

Bạn thấy nội dung bài viết này như thế nào?

0,0 / 5(0 lượt đánh giá)
Đánh giá của bạn:

Ý kiến độc giả

0
0/5000Vui lòng nhập tên người gửi và nội dung bình luận.

    Chưa có bình luận được hiển thị.

    Bài viết cùng chuyên mục

    Dấu ấn thống kê

    Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

    3566

    Dấu ấn thống kê

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2025 tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng ước đạt 7,96% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,56% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2025. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,89%, đóng góp 5,19% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,97%, đóng góp 43,63%; khu vực dịch vụ tăng 8,46%, đóng góp 51,18%...

    3965